Saturday, May 18, 2013

THIẾU LÂM TỰ

                                                                                           April 5, 2013

Thiếu Lâm tự: Huyền thoại & sự thật

image

Huyền thoại về “ngôi sao Bắc Đẩu”
 
Với bề dày lịch sử 1.500 năm, Thiếu Lâm tự - Trung Quốc là kho tàng võ công thâm hậu vang danh khắp thiên hạ. Các nhà nghiên cứu võ học trên thế giới đều phải thừa nhận rằng Thiếu Lâm tự là cội nguồn của nhiều môn phái.
Một chuyến đi về cái nôi võ thuật để tìm một chân dung thật về ngôi sao huyền thoại...

Kẻ tu học trên mạng!
 
Tôi lên mạng với lời rao: “Muốn đi đến chùa Thiếu Lâm, Trung Quốc, ai biết chỉ giúp?”. Chỉ trong nửa ngày đã có hàng tá lời hồi đáp: đường đi nước bước đến Thiếu Lâm tự mỗi người mách bảo một phách, người thì bảo Thiếu Lâm tự ở Châu Nam, tỉnh Phúc Kiến; kẻ đoan chắc chân truyền kungfu ở Bàn Sơn, Hà Bắc; có kẻ lại bảo: “Anh cứ đến Cung văn hóa hữu nghị Hà Nội, ở đó dạy Thiếu Lâm tự Liễu Đôi - Hà Nam, chân truyền chính gốc, cần gì mò sang Tàu?” (!?).

Rối quá tôi lại rao: “Muốn đi tu chùa Thiếu Lâm chính gốc bên Trung Quốc, ai đã từng tu, muốn tu, sắp tu, xin liên hệ email nguyenbnus... xin hậu tạ!”. Hai ngày sau thư điện tử đã có hồi âm: “Em là Hưng, sinh viên Đại học Kinh tế quốc dân, từng sang chùa Thiếu Lâm ở Tung Sơn, Hà Nam, Trung Quốc hai lần, đầu tháng giêng em sẽ sang nhập học, nếu cần anh bay ra Hà Nội, em sẽ giúp...”. Tôi thu xếp bay ra Hà Nội ngay.

image
 
Hưng với thân hình đúng nhà võ - cao lớn, vai u thịt bắp, rất am hiểu Thiếu Lâm tự - kể cho tôi biết: Đúng là bên Tàu có đến ba ngôi chùa mang tên Thiếu Lâm, nhưng chính gốc chân truyền chỉ có một là Tung Sơn Thiếu Lâm tự ở thị trấn Đăng Phong, tỉnh Hà Nam.
Chính nơi này, năm 527 (sau Công nguyên) tổ sư Bồ Đề Đạt Ma - con vua Nam Thiên Trúc (miền nam Ấn Độ) đã lên đường vượt biển sang Trung Hoa và đến Tung Sơn, chọn động Thiếu Thất để tham thiền diện bích (nhìn vào vách đá) suốt chín năm liền.
Từ đó, ông đúc kết tinh yếu ra môn phái Thiếu Lâm tự với năm bộ sách bí truyền tuyệt thế võ công chấn động giang hồ và là nền tảng cho hầu hết các môn võ khác như Nga Mi, Không Động, Võ Đang, karatedo, taekwondo, judo, kiếm đạo Nhật Bản và cả Vovinam… cũng đều xem

image
Tung Sơn Thiếu Lâm tự

Bồ Đề Đạt Ma là thủy tổ.
 
Kungfu Trung Hoa hay võ Thiếu Lâm tự vang danh giới võ lâm giang hồ từ hơn ngàn năm qua bởi 72 tuyệt kỹ kungfu như thương đao bất nhập pháp (binh khí không thể chém vào người), bích hổ du tường công (leo tường), tù thủy công (chạy trên mặt nước), phi tiềm tẩu bích (chạy trên vách, bay trên mái)…

Chỉ cần luyện thành công một trong 72 tuyệt kỹ cũng đủ tư cách để lập ra một võ phái danh trấn giang hồ!... Chỉ nghe Hưng kể về những huyền thoại thôi mà tôi đã rạo rực muốn nhập môn trở thành võ tăng rồi... Hưng hẹn tôi về thu xếp, đúng mồng mười tháng giêng sẽ ra Bắc cùng nhau cất bước “tiếu ngạo giang hồ”...

Đọc những bộ sách kiếm hiệp như Tiếu ngạo giang hồ, Ỷ Thiên Đồ Long ký , Thần điêu đại hiệp… tôi đã quá mê mẩn những thần công lực của các vị cao tăng chùa Thiếu Lâm. Trong lịch sử Trung Hoa, dấu ấn các cao thủ chùa Thiếu Lâm cũng rực rỡ không kém.

Từ đời Đường, tuyệt đỉnh võ học Thiếu Lâm tự đã chấn động giang hồ khi 13 vị cao tăng chùa Thiếu Lâm giúp vua Đường Thái Tông phá trận Vương Thế Sung (mà vừa qua Đài truyền hình TP.HCM đã cho trình chiếu bộ phim nhiều tập San bằng Thiếu Lâm tự. Lịch sử võ học cũng lưu danh các cao tăng như Chí Tháo, Huệ Dương, Đàm Tông… đã đóng góp cho nền võ học thế giới những huyền công tuyệt kỹ.

image
 
Tinh hoa của Thiếu Lâm là võ đạo. Võ động, đạo tịnh - tinh thần Thiếu Lâm là mượn cái động để trở về cái tịnh. Các nhà nghiên cứu phương Tây cho đến giờ vẫn chưa khám phá hết kho tàng nội công và khí công của võ đạo. Đi đến chân truyền tuyệt kỹ của Thiếu Lâm tự là một con đường khổ ải. Các tiểu tăng thường được đưa vào chùa từ tuổi lên 5, lên 7, học từ tấn pháp, thân pháp, quyền pháp, cước pháp... rồi la hán quyền, mai hoa quyền.

Bước vào trung cao thì tùy vào thể trạng, nhỏ con thì luyện báo quyền, cao gầy thì hạc quyền, to cao thì long quyền... Không phải ai cũng có thể bước vào hàng cao thủ Thiếu Lâm, vì phải có căn duyên, phải đạt khí lực và nội lực thâm hậu mới có thể luyện tuyệt kỹ, bằng không sẽ phản đòn nội thương. Để đạt đến vô vi quyền (vô chiêu thắng hữu chiêu), dùng khí lực nuôi thao tác liên kết hệ thống thần kinh và huyệt đạo để dẫn khí lực ra chiêu thì mới gọi là thượng thừa, mới có thể gọi là Đạt Ma khí công…

image
 
Với một kẻ ngoại đạo như tôi, kho tàng võ thuật Thiếu Lâm tự quả như ngọn núi Thái Sơn mà mới một vài bài quyền của các tiểu tăng đánh võ như múa trong đoàn võ thuật Thiếu Lâm Tinh Anh - Bắc Kinh vừa qua Sài Gòn hồi tháng mười hai cũng đủ khiến tôi choáng ngợp...

Chuyến tàu tốc hành phương bắc
 
Đúng hẹn với Hưng, tôi vác balô ra Hà Nội. Vừa xuống sân bay trời lạnh 100C, nhưng cảm thấy lạnh hơn khi điện thoại cầm tay của Hưng “ò…í…e…”. Mới ngày hôm trước còn liên lạc, Hưng vẫn dặn: rét lắm đấy, hôm qua đài báo ở Bắc Kinh, Trịnh Châu lạnh đến âm 180C. Hưng còn dặn nên cạo đầu để bày tỏ lòng thành kính đối với các bậc cao tăng… Vậy mà…

Tiếng còi tàu tốc hành liên vận Hà Nội - Bắc Kinh trong đêm nghe sao não lòng. Kẻ tu học qua mạng vẫn biệt tăm, đường xa vạn dặm biết đâu mà lần, chẳng lẽ quay về? Nhưng tóc đã xuống, tâm đã tịnh, tiệc chia tay vợ con đã tàn... nào có thể thối lui?
“Gió hiu hiu sông Dịch lạnh tê, tráng sĩ ra đi chừ không trở về...”. Con tàu liên vận nối liền thủ đô hai nước phóng vào màn đêm hun hút, trên tàu chỉ có đúng 11 người VN - mùa này đang vào tiết đại hàn, người phương bắc ùn ùn kéo xuống phương nam chứ có ai ngược lên phương bắc!
Ông soát vé tàu ngạc nhiên hỏi đi hỏi lại nhiều lần khi biết tôi sẽ xuống ga Trịnh Châu - Hà Nam (cách Bắc Kinh 500km về phía nam) để đi Thiếu Lâm tự, bởi mùa này không ai đi viếng chùa Thiếu Lâm lại càng không thể tin là đi học võ, vì thời tiết năm nay vô cùng khắc nghiệt, trung bình cũng âm 100C, miền núi Tung Sơn luôn có bão tuyết.

image
 
Quả như lời ông soát vé nói, tàu chỉ mới đến Quế Lâm, bắc tỉnh Quảng Tây, giáp VN, tuyết đã rơi dày đặc; làng mạc, những cánh rừng phủ trắng một màu tuyết - hiện tượng này ngay chính người Trung Quốc cũng cho là khác thường, bởi vùng Hoa Nam cả 20 năm qua chưa có tuyết rơi!
Tàu vượt sông Trường Giang trong đêm tối, tôi tiếc là không có dịp để ngắm một trong những dòng sông lớn nhất Trung Hoa - nơi mà ngàn năm trước tổ sư Bồ Đề Đạt Ma đã rời nước Lương để đến Thiếu Lâm tự của Bắc Ngụy chỉ bằng một cọng lau đạp nước qua sông (cước đạp lô điệp quá giang) để từ đó “cửu niên diện bích” (chín năm thiền mặt quay vào trong vách đá) trong động Thiếu Thất trở thành tỵ tổ của Thiếu Lâm võ công và sơ tổ Thiền tông Trung Hoa.

Tàu vào ga Trịnh Châu chỉ đỗ đúng năm phút cho hai người khách xuống: tôi và anh Kim Sơn - người phiên dịch. Trên tàu có lò sưởi nên chưa cảm thấy cái lạnh, vừa ra khỏi tàu đôi tai tôi gần như đóng băng (!), nhiệt độ bên ngoài âm 10C, nhưng khi lên xe đò về đến thị trấn Đăng Phong, cách Trịnh Châu 80km về phía đông bắc mới biết mình vẫn còn may mắn vì trước đó hai ngày một cơn bão tuyết đã ập vào Trịnh Châu, làm tắc nghẽn giao thông suốt hai ngày. Chuyến xe đò mà tôi đi về Đăng Phong là chuyến đầu tiên sau cơn bão tuyết!

image
 
Dãy Tung Sơn đang dần hiện ra, huyền thoại về tuyệt kỹ Thiếu Lâm tự đã ở sau lưng, trước mắt là một thế giới khác về Thiếu Lâm tự đang mở ra…

 Chợ kungfu
 
Tôi cứ hình dung đó là một thị trấn cổ kính ngàn năm với những võ sinh đang luyện tập dưới bóng núi Tung Sơn, bởi trong tám kinh đô cổ của Trung Quốc thì tỉnh Hà Nam chiếm hết bốn - gồm An Dương, Lạc Dương, Khai Phong và mới đây là Trịnh Châu (1600 – 1100 trước Công nguyên). Thế nhưng  tất cả đều tan biến ngay trong phút đầu gặp gỡ...
Công nghệ “chân truyền”!

Thị trấn Đăng Phong đang hối hả xây dựng, con đường cao tốc từ thành phố Trịnh Châu dẫn về Đăng Phong rộng sáu làn xe, dấu ấn duy nhất là bên sườn núi người ta cho tạc vào vách núi chân dung các vị cao tăng đang luyện khí công. Còn lại là hàng loạt tòa nhà cao tầng đang đua nhau vươn lên; nhà hàng, khách sạn ba sao, bốn sao vươn dài ra tới dãy Tung Sơn - nơi tọa lạc chùa Thiếu Lâm.
Ngay tại bến xe, người tài xế xe đò tên Kỳ sau khi nhìn cái đầu trọc “truyền thống” và biết ý định của tôi muốn tìm một “lò” chân truyền để tu học, anh móc điện thoại di động gọi ngay, sau đó bảo: “Lên chùa học làm gì cho mệt, ghé chỗ bạn tôi, chỉ học vài tháng là đạt tuyệt khí công (!?)”.
Tôi ngần ngại, nói muốn học cho đến nơi đến chốn để về nước mở lò dạy võ. Kỳ như biết quyết tâm của tôi: “Tôi bao tất, 10.000 tệ (khoảng 20 triệu tiền Việt Nam), có bằng do đệ tử chân truyền của phương trượng cấp, sang Mỹ còn mở trường dạy võ được huống hồ gì VN!”. Tôi dò hỏi: “Vậy học mấy tháng?”. Anh lái xe cho biết chỉ cần ba tháng là được, rồi anh vung tay múa quyền giống như mấy tiểu sư phụ trong đoàn Thiếu Lâm Tinh Anh!

image
 
Khắp Đăng Phong đâu đâu cũng có thể liên hệ vào học ở võ đường, Học viện Thiếu Lâm. Một bảng hiệu nhỏ như bảng hiệu “nhận giặt là” ở Hà Nội cũng được ghi “Thiên Long Thiếu Lâm võ đường”, hay một tòa nhà trên phố chỉ cao ba tầng cũng được chèo kéo vào giới thiệu là “Tiểu Long Thiếu Lâm học viện”...
Và chỉ cần lên taxi mà miệng bập bẹ với tài xế “Shao lin ssu…” là sẽ được chở ngay tới một “mối” luyện kungfu vô danh hoặc hữu danh nào đó mà ai cũng đoan chắc “chính hiệu chân truyền”; như một thời ở Hà Nội người ta tranh nhau chất “chân truyền” của các quán thịt chó trên đê Yên Phụ, nào là anh Tú xịn, anh Tú béo, anh Tú chính gốc...
Thậm chí có “cò” còn tuyên bố sẵn sàng bảo kê cho tôi vào chùa tu, nhưng ban đêm có thể ra thị trấn ăn chơi, nhậu nhẹt đàn đúm - vì “cò” này bảo thanh niên trai tráng mà ở trong chùa thì hoạn sướng hơn!

image
 
Một anh cò có đôi mắt sắc như dao của Kinh Vô Mệnh rủ rỉ: “Chỗ tôi không cần phải học chi cho mệt, cứ đến ghi danh và tìm chỗ ăn ở cho thoải mái, tôi sẽ chạy cho tấm bằng chứng nhận đã tu luyện do chính đương kim phương trượng Vĩnh Tín ký và đóng dấu. Nhiều võ sinh từ Mỹ, Pháp sang cũng “học” theo cách này mà...”.
Thấy tôi lo ngại, Kinh Vô Mệnh lật bài ngửa phán ngay: “Giấy giả thôi, chỉ tốn có 1.000 tệ, mấy đại sư phụ có tài thánh cũng không biết giả - thật!”. Anh Kim Sơn, người phiên dịch đã có mười năm lăn lộn khắp đất nước Trung Hoa, cho biết: “Chuyện giả chữ ký và dấu son là chuyện bình thường ở đất nước này, đến tiền mà còn làm giả đến mức ngân hàng còn không phát hiện được!”.
Ngụy phái hay chân truyền đều khó lòng phân biệt thì tôi còn biết tu học cửa nào đây?

Duyên phận!

image
 
Còn đang phân vân vì không biết thân phận sẽ trôi về chốn võ lâm nào giữa cái chợ võ ồn ào, náo nhiệt này, may mắn thay tôi lại bắt mối được với một người tự giới thiệu là Mã Hải Phong - thư ký riêng của một cao tăng đang tu tại chùa Thiếu Lâm.
Phong dáng đậm người, nói nói cười cười và có vẻ thật thà khi “thành thật khai báo”: “Tôi đâu biết võ, chỉ học lóm vài chiêu để phòng thân khi đi chợ, học võ mệt lắm, nhưng thầy của tôi chính gốc chân truyền!”.
Phong gọi taxi và đưa chúng tôi về một căn nhà nhỏ gần con đường cao tốc dẫn lên Thiếu Lâm tự. Căn phòng lạnh đến ghê người, chiếc cửa nhỏ bé được che bằng miếng cao su dày để chắn gió rét, phòng bên ngăn cách bằng một tấm kính tôi thấy có mấy chú nhỏ đầu cạo trọc đang hì hục tập võ mà tôi đoán là các tiểu võ tăng.

Ban đầu cứ nghĩ là mình đã bị lừa vào chốn tà phái, nhưng định thần nhìn quanh, với cách bài trí trong phòng, tôi thấy có thể yên tâm phần nào: nhiều bức ảnh treo trên tường là ảnh các vị lãnh đạo cao cấp của Trung Quốc như Giang Trạch Dân, Chu Dung Cơ… chụp chung với các cao tăng, có những tấm trướng ghi thành tích của chủ nhân của nó và cả một dàn thập bát ban võ nghệ thương, đao, chùy, kiếm…

image
 
Mã Hải Phong hỏi tôi chỉ học võ hay cả đạo lẫn võ; nhu cầu ăn, ở, mua sắm trang phục loại nào, có đủ khả năng ở phòng riêng không, thời gian lưu lại tu học là bao nhiêu năm... và ghi chép rất cẩn thận vào sổ tay. Móc điện thoại di động nói chuyện khá lâu, rồi Phong quay sang tôi với gương mặt tươi tỉnh: “Đại sư phụ sẽ đến ngay, sẽ trao đổi trực tiếp với anh!”. Chỉ chưa đầy 30 phút, Mã Hải Phong mừng rỡ reo lên: “Cao tăng đến... Sư phụ đến...!”.

Một bóng người vén chiếc màn cao su nặng trịch bước vào, bóng tối bao trùm lấy căn phòng bởi tấm thân hộ pháp dễ gần trăm ký choán hết ánh sáng của cánh cửa nhỏ. Tôi bất chợt rùng mình, không phải vì tấm thân hộ pháp mà vì gương mặt con người ấy - gương mặt mà tôi đã gặp đâu đó, rất quen như là mới gặp trong cái thị trấn Đăng Phong nhỏ bé này…
Cao tăng ngồi đối diện và nhìn tôi rất lâu, ánh mắt nhỏ xíu nhưng đầy uy lực, ánh mắt của người có quyền lực, hỏi lại tôi những câu mà thư ký Mã Hải Phong đã hỏi, rồi lại nhìn tôi rất lâu và phán một câu: “Ngũ quan của anh rất tốt, anh đến với tôi là do duyên phận, tôi nhận anh làm đệ tử và cho phép gọi tôi là sư phụ!”.

image
 
Tôi cũng bất ngờ mừng vui, không vì lời khen tặng của sư phụ mà chính vì chợt nhớ ra ông chính là nhân vật cao cấp trong giới cao tăng Thiếu Lâm tự: hình ảnh của ông ở ngay trong căn phòng này, chụp chung với các nhà lãnh đạo Giang Trạch Dân, Chu Dung Cơ... Ở khách sạn, khu bán hàng lưu niệm trong thị trấn Tung Sơn hình ảnh của ông cũng được trưng bày khá nhiều trên các tờ bướm, tập bưu ảnh…

Thậm chí ảnh của sư phụ còn nhiều hơn cả phương trượng đại sư Vĩnh Tín - đương kim trụ trì Thiếu Lâm tự. Ngay cả quyển kỷ yếu Tung Sơn Thiếu Lâm tự võ tăng đoàn mà các cô nhân viên lễ tân khách sạn tặng khách cũng tràn ngập hình ảnh sư phụ… Duyên phận của tôi đã bắt đầu từ đây.
Không để đệ tử đợi lâu, như để chứng minh danh tánh “chân truyền đại sư”, sư phụ đưa ngay danh thiếp cho tôi: “Thích Diên Truyền - tổng giáo đầu võ tăng đoàn Tung Sơn Thiếu Lâm tự” - nhân vật cao cấp sau đại sư trụ trì phương trượng trong 180 cao tăng chùa Thiếu Lâm Tung Sơn!
Nói theo thư ký Mã Hải Phong thì: danh tiếng của ngài cũng giống như Quý Bố, danh tướng đời Tần mà trong giới giang hồ võ lâm vẫn truyền tụng: “Được ngàn lạng vàng không bằng một tiếng ừ của Quý Bố!”. Quý Bố vừa “ừ” với tôi kia rồi! Tôi như Trương Đan Phong vừa mở được “huyền công yếu quyết” để tìm ra nội công thượng thừa!

Tổng giáo đầu không vội đi sâu vào việc tu học, ngài phất tay ra lệnh cho tôi theo ngài ra ngoài. Tôi tuân theo, cứ tưởng sư phụ sẽ gọi taxi; nhưng không, sư phụ “tung chưởng” bấm remote - tiếng “ót ét” vang lên từ chiếc xe hơi riêng, tự ngài cầm lái và đưa tôi đi về hướng Thiếu Lâm tự...
Chuyện đời thật trái khoáy, ngày xưa có những hiệp khách đến quì lạy dưới mưa sa bão tuyết bảy ngày bảy đêm trước cổng chùa Thiếu Lâm để mong các cao tăng nhận vào làm đệ tử. Nay đệ tử vừa lặn lội từ đất phương nam xa xôi đến đây đã được đích thân sư phụ ưu ái đưa bằng xe hơi riêng lên thẳng nội cung Thiếu Lâm…


Trong "nội cung" Thiếu Lâm tự
 
image

Không còn cảnh xe ngựa lốc cốc từ Đăng Phong lên Tung Sơn như mười năm trước mà tôi đã từng nghe kể, cũng không thấy các tiểu tăng Thiếu Lâm trầm mình trong tuyết trắng để bảo vệ các pho sách bí quyết nội công, khí công của Tàng Kinh Các như trong truyền thuyết...
Đường lên Thiếu Lâm tự bây giờ đã là cao tốc sáu làn xe và thay cho các tiểu tăng là hai ba vòng rào bảo vệ thu  tiền vé khách thập phương vào vãn cảnh chùa...

Đây, Tàng Kinh Các!
image
 
Thiếu Lâm tự  được vua Hiếu Văn Đế xây dựng vào năm Thái Hòa thứ 19 đời Bắc Ngụy (năm 495). Lịch sử ngôi chùa này cũng khá truân chuyên và đầy chất giang hồ hiệp khách như trong tiểu thuyết Kim Dung, đã từng là nơi tỉ thí võ nghệ của giới võ lâm và bị tàn phá nhiều lần trong các năm 556, 844, 962; bị cháy đến ba lần vào các năm 612, 1736, 1928; đây cũng là một trong những mục tiêu bị đập phá tàn bạo nhất của tỉnh Hà Nam bởi các hồng vệ binh trong “đại cách mạng văn hóa” thập niên 1960. Mãi đến cuối thập niên 1970 Thiếu Lâm tự mới được đại trùng tu để có diện mạo như hiện nay.
Sư phụ Thích Diên Truyền như muốn khẳng định “thương hiệu” của mình trước kẻ đệ tử hèn mọn phương nam nên khi vào cổng soát vé Thiếu Lâm tự, ngài cố tình lái xe vào đường ngược chiều (!?). Mấy anh bảo vệ chạy ra nhìn lom lom, sau khi biết đích xác là cao tăng đại sư liền xăng xái lùi vào và cười rất tươi - quả thật “ngoại công” của sư phụ vô cùng đắc địa! Ở ngay cổng tam quan chùa, anh bảo vệ cũng phải lùi bước khi ngài đưa tôi vào tham quan Thiên Hoàng Cung, Bảo Chánh Điện, Tàng Kinh Các…

image
 
Tôi ngẩn ngơ khi đứng trước Tàng Kinh Các - gian nhà cổ kính mà ngàn năm qua là nơi dòm ngó, đột nhập của bao thần thâu lục lâm (siêu trộm). Nơi lưu giữ các pho sách bí truyền nội công, khí công để luyện 72 tuyệt kỹ đều nằm ở đây. Trong lịch sử của giới võ lâm, mỗi khi Tàng Kinh Các bị đột nhập, xâm phạm, dù đó là kẻ thần thâu, hiệp khách hay đó là đấng quân tử, quân vương… đều làm cho giới giang hồ khuấy động, bao cảnh máu đổ đầu rơi vì đã chạm vào nơi đại trọng của các cao tăng Thiếu Lâm tự.
Tàng Kinh Các vẫn cổ kính như xưa, những chiếc tủ to chứa đựng bí quyết  thâm hậu võ công vẫn ẩn mình sau lớp cửa. Một vị cao tăng đi tới đi lui lạnh lùng nhìn kẻ lạ phương nam. Một vị tiểu tăng ngồi co ro bên hữu môn vừa bán ít hàng lưu niệm như xâu chuỗi, tượng Phật, nhang đèn…cho khách thập phương, vừa đọc sách mà theo thư ký Mã Hải Phong thì đó là những võ tăng “thất sủng” được sư bác đưa ra làm “dịch vụ”.

Vị tiểu tăng bán hàng lưu niệm rất khó chịu khi tôi đưa máy ảnh lên chụp, vì đường đường là võ tăng chân truyền trong 180 vị cao tăng chùa Thiếu Lâm ngày đêm tu luyện tuyệt kỹ khí công mà lại bị xem như một người phàm, buôn bán mấy món lặt vặt sao? Thà được lưu danh như Lỗ Trí Thâm, xuất gia núi Ngũ Đài, ăn thịt chó, uống rượu mạnh ngang dọc chốn giang hồ vẫn còn hơn làm “ông chủ” hiệu dịch vụ Tàng Kinh Các!...

Tôi bước chân lên điện Tây Phương thánh nhân - nơi thờ sư tổ Bồ Đề Đạt Ma. Bức tượng ông đạp cọng lau qua sông Trường Giang được khắc họa quá tinh xảo, có cảm giác như ngài vẫn còn quanh quẩn đâu đây để lo âu trước những thăng trầm của ngôi cổ tự này.
Dấu ấn đặc biệt, đáng xem nhất trong ngôi cổ tự này là  cựu võ đường Thiên Phật tự, nơi có hơn 40 phiến đá nền bị lún sâu, còn in đậm những dấu chân ngàn năm của các thế hệ cao tăng luyện tuyệt kỹ La hán quyền, Mai hoa phong vũ quyền, Bài sơn chưởng, Nhất chỉ thiền công…
Còn ngoài sân, những cây bồ đề, cây tùng bách vẫn còn những vết lõm trên thân cây là dấu tích của các thế hệ Thiếu Lâm cao tăng luyện Trúc diệp thủ, Thiết tý công, Bao thụ công... Đó là dấu vết không thể chối cãi được của một pho bí truyền về nội công, khí công cao siêu dưới vòm trời võ học trần gian…

Phía sau cánh cửa thiền phòng…

image

Tiếng cầu kinh râm ran phía dưới điện Thiên Hoàng Cung, sư phụ đã biến mất từ lúc nào tôi cũng chẳng hay, chắc ngài đã dùng tuyệt kỹ “phi hành công” (phi thân) để lo việc chùa. Nhiều tiểu tăng  trẻ tuổi từ khu thiền phòng  lật đật cầm bát, tô, ca, cà mèn đi nhanh về phía tiếng kinh cầu, thì ra đã đến giờ các cao tăng đi dùng cơm trưa.

Tò mò muốn biết các cao tăng ăn những gì mà nội công quá thâm hậu, tôi cũng lò dò theo các tiểu tăng đến phòng cơm. Một thân hình hộ pháp trấn ngang trước cửa, xua đuổi như gặp tà, tôi thoáng thấy bóng sư phụ bên trong, ngài đang lim dim tụng kinh nên chẳng can thiệp gì cho tôi vào bên trong được.

image
 
Tiếng tụng kinh lắng dần và bắt đầu tiếng xì xồ, cười nói vui vẻ, những vị sư trẻ bước ra cười rất tươi, người trên tay bát cháo to ụ, người thì cà mèn mì đầy ắp, lại thêm hai, ba cái bánh bao kèm theo.
Thư ký Mã Hải Phong cho biết các sư phụ trong chùa Thiếu Lâm chỉ ăn chay và theo kiểu buffet mì, cháo, cơm, bánh bao, trứng luộc… ai thích ăn thứ gì thì tự chọn. Các cao tăng lớn tuổi ăn tại phòng ăn, còn các tiểu tăng thích tự do, thích riêng tư thì mang về thiền phòng.

Sư phụ tôi xuất hiện, tay ngài cũng cầm một bát cháo to, vừa đi vừa cười. Ngài cũng thuộc loại trẻ tuổi nên mang suất ăn trưa về phòng. Ngài hào phóng bảo thư ký Phong: “Đưa đệ tử xuống ăn cơm rồi về phòng riêng của thầy mà ngơi nghỉ, chiều mới bàn việc học ”.
Bụng đói cồn cào, một bát mì to không kém của thầy, dặm thêm hai cái trứng gà luộc mà vẫn còn thòm thèm, nhưng cảm thấy ngại vì xung quanh có khá nhiều người là khách của chùa cùng xuống ăn nên tôi bỏ đũa và líu ríu theo thư ký Phong về khu thiền phòng…

Tôi không thể hình dung  thiền phòng - nơi ăn chốn ở riêng tư của các cao tăng thuở trước ra sao, nhưng thiền phòng thời nay là tòa nhà hai tầng khá hiện đại. Bước vào cửa là dãy hành lang tối om om với vài chiếc bóng đèn vàng vọt, nhưng vào bên trong thì phòng nào cũng được trang bị máy điều hòa hai chiều nóng - lạnh, máy điện thoại riêng và nhà vệ sinh riêng.
Bên ngoài cho dù giữa trưa nhưng vẫn là điều khổ ải trần thân vì giá lạnh đối với người phương nam quen nắng ấm quanh năm như tôi. Bước vào phòng của sư phụ quả là diễm phúc, máy sưởi chạy rù rì, chiếc giường nệm êm ru làm đệ tử  díu mắt… Sư phụ tổng giáo đầu vừa ăn cháo, vừa viết thư pháp. Thầy viết khá đẹp, trên tường còn treo nhiều bức thư pháp lớn với nhiều nội dung về võ đạo.

image
 
Ăn xong thầy bảo tôi: cứ tự nhiên nghỉ ngơi, thầy có việc phải ra thị trấn độ một giờ sau sẽ quay lại. Thầy đi rồi, thư ký Mã Hải Phong và người phiên dịch nằm lăn quay ra ghế xalông mà ngáy. Tôi leo lên chiếc giường của cao tăng định đánh một giấc, nhưng “cơ hội ngàn năm” được vào thiền phòng các cao tăng nên lò dò đi tìm hiểu.
Có lẽ sư phụ tôi là tổng giáo đầu nên trong phòng ngài còn có máy vi tính nối mạng riêng, hai chiếc đại đao và thương to lớn dựng bên tường thuộc thập bát ban võ nghệ (18 món binh khí) của môn phái Thiếu Lâm dùng để luyện tập.
Trong chiếc tủ đứng của sư phụ có khá nhiều sách và kinh, tràng hạt và nhiều hình ảnh về những chuyến ra hải ngoại của sư phụ. Một khám phá khá thú vị là trong tủ của thầy có khá nhiều thuốc tây trị bệnh thông thường như cảm mạo, đau bụng...!
Cuộc sống của cao tăng Thiếu Lâm tự cũng thật phong phú và khá đời thường. Bên phòng của các cao tăng khác quần áo “dân sự” phơi phóng khắp nơi, nhiều cao tăng trẻ còn treo vài bộ đồ jean để khi cần có thể dạo phố. Nhiều võ tăng trẻ còn sắm cả dàn máy CD để nghe nhạc nhẹ, nhạc trữ tình!
Điều đặc biệt hơn là bên ngoài sân trước khu thiền phòng còn có khoảng vài chục chiếc xe hơi đủ loại, đủ kiểu, đủ màu sắc, không chỉ là xe của khách mà  đa số là xe hơi riêng của các cao tăng trong chùa!

Dịch vụ của tổng giáo đầu

image
 
Sư phụ tổng giáo đầu bảo tôi gặp được ngài là do có duyên phận, không phải ai cũng có thể gặp ngài để dập đầu bái sư tu học. Trong những ngày ở Tung Sơn - Thiếu Lâm tự, tôi chưa từng thấy ngài ra chiêu tuyệt kỹ võ công nào, nhưng tuyệt chiêu “công nghệ chiêu sinh” của ngài quả thật thượng thừa!
Bi hài “tu học”
Sau khi để tôi tự do với “nội cung” Thiếu Lâm tự , ngài đưa tôi trở ra ngôi nhà lạnh lẽo gần thị trấn và giới thiệu về các “dịch vụ tu học”.
Sư phụ cho biết: ai cũng tưởng tu luyện Thiếu Lâm là vô chùa, nhưng trong chùa chỉ dành cho 180 cao tăng, những người có duyên phận đặc biệt, do chính sư bác phương trượng Thích Vĩnh Tín phỏng vấn trực tiếp và chọn lựa; thầy cũng có “chân” trong việc tuyển chọn, nhưng điều kiện đầu tiên phải là người Trung Quốc sống ở Trung Quốc!
Tôi là người dị bang ngoại tộc thì chín kiếp nữa cũng không thể lọt vào tầng lớp cao tăng Thiếu Lâm tự. Nhưng sư phụ trấn an ngay: “Đệ tử vẫn có thể tu học qua lớp của thầy mở riêng, học phí vào khoảng 16.000 nhân dân tệ/năm (khoảng 32 triệu đồng), khóa của thầy đào tạo trong hai năm là đảm bảo sẽ được cấp giấy chứng nhận do chính phương trượng trụ trì chùa Thiếu Lâm ký và đóng dấu là có thể về VN mở lò, mở lớp" (!?).

Tôi hỏi: “Thưa sư phụ, có lớp nào rẻ hơn không?”. Thầy liền trợn mắt: “Chỉ riêng tiền ăn uống, trang phục đã là 5.000 tệ rồi, đệ tử là ngoại bang, ăn ở cao cấp hơn, còn kinh kệ, tụng niệm và phải học tiếng Hán nữa!”.
Chỉ riêng tiền trọ học thôi cũng được thầy cho biết là 8.000 tệ/năm. Tiếp lời, sư phụ đưa tôi ra phía sau căn nhà, ở đó có khoảng chừng chục đứa trẻ, tuổi cao nhất cũng chỉ 15-16 đang luyện võ. Sư phụ nói: “Anh sẽ được vào lớp này, ít người dễ học hơn!”.
Tôi như chết đứng giữa Đăng Phong xa lạ, trước một uy danh tối cao như tổng giáo đầu thì không thể xí gạt chuyện vì tò mò mà thâm nhập chốn võ lâm uy nghiêm. Còn tu học ư ? Tôi đâu thể “lục thân khả đoản” (cắt đứt quan hệ với vợ con) tự nhiên bỏ nhà, bỏ cửa, bỏ vợ, bỏ con leo lên núi cạo đầu đi tu hai năm?

Tôi tìm cách tháo lui nên thưa với thầy: “Xin được cáo lui về thị trấn để gọi điện về nước, vì khi tôi sang còn có mười người bạn cũng nhờ tôi hỏi giá học phí”. Thầy tỏ ra mừng rỡ khi biết còn thêm mười đệ tử sẽ sang: “Ta sẽ giới thiệu đệ tử vào ở khách sạn ba sao của Thiếu Lâm tự quốc tế, bình thường sẽ phải trả 400 tệ/đêm, nhưng người là đệ tử của ta sẽ bớt chỉ còn 250 tệ/đêm, cứ nghỉ ngơi để mai còn làm lễ bái sư, ta sẽ ban cho người một pháp danh...”.
Không biết tôi có đồng ý hay không, ngài sai thư ký Phong mang ra tập hồ sơ to đùng, bảo ghi tên, tuổi, địa chỉ ở VN, đóng dấu ký tên giao biên lai và thu 200 nhân dân tệ, bảo đó là “chi phí ghi danh - kể từ bây giờ người đã là đệ tử của ta”. Thư ký Phong nhanh chóng xách balô ra xe và chở thẳng tôi về “Thiếu Lâm quốc tế khách sạn”!
 
image
 
Ở sảnh lễ tân suýt chút nữa tôi đã chứng kiến đòn Tiên nhân chưởng (chưởng tay tiên) của tổng giáo đầu khi cô gái phương bắc xinh đẹp như người mẫu cao đến thước tám từ chối cho ngài ký giấy bảo lãnh cho chúng tôi vào khách sạn vì không biết ngài là ai (!?).
Đôi tay hộ pháp của ngài cứ bấu lên chiếc quầy đá mà nghiến răng nhìn cô người mẫu lạnh lùng, ngay tại quầy khách sạn cũng treo đầy ảnh của ngài chụp với các lãnh đạo Trung Quốc mà cô gái (chắc cô mới vào làm việc nơi này) vẫn không hay biết. Không lay chuyển được ý chí của “người mẫu”, cuối cùng sư phụ phải đưa giấy chứng minh cao tăng ra trình!
Sáng hôm sau, tôi dậy thật sớm, đón taxi quay trở lại chân núi Tung Sơn để tìm hiểu về hệ thống hơn 40 học viện, đại võ đường Thiếu Lâm tự và đi thăm rừng bảo tháp bằng đá. “Rừng” là nơi có hơn 230 bảo tháp với nhiều hình dạng tròn, vuông, lục giác, tứ giác, bát giác, ngọn cao nhất lên đến 15 thước, là nơi chôn cất những vị cao tăng nổi tiếng từ đời nhà Đường cho đến nay.
Tôi cũng đến thăm Diện Bích động, nơi mà 1.500 năm trước tổ sư Bồ Đề Đạt Ma đã diện bích cửu niên (ngồi nhìn vào vách đá suốt chín năm trường) để luyện đến tuyệt đỉnh võ thuật truyền cho muôn đời sau… Nhưng đời sau có đạt đến chân truyền thuần khiết?

Vừa về đến phòng khách sạn, tôi đã bật ngửa khi thấy sư phụ tổng giáo đầu và thư ký Phong đang ngồi trong phòng. Sư phụ có vẻ phật ý khi cho biết đã chờ suốt bốn tiếng chỉ để thống nhất ngày giờ làm lễ “dập đầu bái sư” như đã thỏa thuận hôm qua.
Sư phụ nói: “Đó là tục lệ của Thiếu Lâm tự, ai muốn làm đệ tử chân truyền của Thiếu Lâm tự cũng phải làm lễ bái sư dưới sự chứng kiến của các võ sinh đồng môn và phải đặt một phong bì với 1.000 tệ gọi là cúng tổ !”. Anh phiên dịch thật tình muốn giúp tôi nên trả giá: “1.000 tệ là cho cả mười người bạn của anh ấy luôn phải không thầy?”. 
 
image
 
Sư phụ suy nghĩ hồi lâu rồi lắc đầu: “Mỗi người 1.000 tệ, không được đại diện!”. Tôi đồng ý sẽ làm lễ bái sư vào tối mai. Sư phụ và thư ký Phong tỏ ra rất hài lòng. Khi thấy tôi bật tivi xem chương trình Fashion TV với những cảnh khá “nóng”, tổng giáo đầu bảo: “Kể từ bây giờ hãy kiêng rượu thịt, trai gái và thuốc lá đi!”.

Mặt trái của huyền thoại…
Tôi thầm cảm ơn thư ký Mã Hải Phong trong những ngày ở Thiếu Lâm tự, bản tính thật thà của anh vô tình đã giúp tôi tìm hiểu khá sâu về cuộc sống đời thực trong thế giới võ lâm đầy huyền thoại này.
Phong cho biết: “Không chỉ riêng tổng giáo đầu mà rất nhiều cao tăng trong chùa Thiếu Lâm đều có đường dây và hệ thống võ đường riêng ở bên ngoài và từ những khoản thu không nhỏ này, nhiều cao tăng đã sắm sửa xe hơi, nhà lầu. Nhiều sư phụ còn có cả đường dây “tuyển sinh” từ Mỹ, châu Âu…”.
Còn khoản thu “bái sư” không nhỏ với những võ đường từ vài trăm đến vài ngàn võ sinh sẽ về tay ai? Phong thật thà cho biết: “Các sư phụ - chủ các võ đường chứ ai! Thầy phương trượng đâu có chủ trương nhận đệ tử lấy tiền như vậy, qui định và tinh thần của Thiếu Lâm tự từ cổ chí kim cũng không như vậy!”. 
 
image
 
Bài học từ ngàn xưa của đại sư Thiếu Lâm tự Hạnh Ân vẫn còn lưu giữ trong Tàng Kinh các cho đến hôm nay: “Nếu có một kẻ vô đạo đức đến xin được truyền thụ võ công, ta sẽ không dạy cho hắn điều gì cả , dù kẻ ấy muốn dâng ta ngàn vàng”. Bài học này không biết có thất truyền trước kẻ hậu sinh?...
Làn sóng “dịch vụ” đã làm ngay các cao tăng cũng cảm thấy mình quá xa lạ ngay trên chính ngôi chùa mà họ đã dành trọn cho con đường tu học. Ở nhiều nơi trong khu vực Tung Sơn - Thiếu Lâm tự, tôi bắt gặp nhiều vị tu sĩ được phái ra làm dịch vụ.

Một vị tu sĩ còn khá trẻ cho biết: “Tôi được cha mẹ gửi lên chùa để làm tu sĩ từ năm 10 tuổi, trong ba năm đầu chuyện học tập võ và đạo thì học rất tốt, nhưng không hiểu sao từ khi có làn sóng du lịch tràn về thì tôi thường xuyên bị đưa ra đây bán hàng lưu niệm”.
Hôm tôi mua vé vào xem sân khấu bán nguyệt biểu diễn võ thuật kungfu, các tiểu tăng trẻ luôn bở hơi tai vì những màn biểu diễn liên tục theo vòng xoay của các đoàn khách tham quan. Trên sân khấu rất tươi trẻ và màn nội công của họ rất điệu nghệ, không ai có thể phủ nhận được những đòn khí công, nội công vô cùng điêu luyện nhưng khi ra sau cánh gà thì cũng co ro, xuýt xoa vì lạnh như người phàm - trời bên ngoài âm 50C kia mà từ sáng đến giờ họ đã có đến hơn năm suất diễn rồi!... 
 
image
 
Một tiểu tăng mà tôi gặp bên ngoài sau màn biểu diễn cho biết: “Tôi vào chùa từ năm lên tám tuổi, tham gia biểu diễn từ năm lên mười. Bây giờ là mùa đông, khách đến tham quan ít nên còn thời gian tập luyện, nghỉ ngơi, còn mùa hè thì khỏi nói, từ sáng đến tối cứ như một diễn viên thực thụ, không còn đâu thời gian kinh kệ, rèn luyện và nâng cao võ thuật…”.
Tôi cảm thấy đã đến lúc hạ màn “nhập môn” nên thú thật với sư phụ tổng giáo đầu vào giờ chót là chưa chuẩn bị tinh thần để làm lễ bái sư, mà chỉ muốn có một đêm họp mặt, gặp gỡ với các bạn đồng môn nhỏ tuổi, sau tết tôi sẽ cùng nhiều người bạn khác sang nhập học. Và đêm chia tay ấy, một thế giới nhân sinh khác, xúc động hơn nhiều, đã như muốn níu chân tôi...

Những người bạn đồng môn
Theo lịch hẹn đến 18g mới đến lễ bái sư, nhưng 16g30 sư phụ đã cho thư ký Phong đến phòng khách sạn để đón chúng tôi. Phong nói thẳng: “Sư phụ đã đặt tiệc tại nhà khách thị ủy Đăng Phong, tất cả tốn hết 400 nhân dân tệ, anh thanh toán trước, nhưng ngài rất thất vọng vì anh không chịu bái sư như đã thỏa thuận ban đầu!”.
Đêm bái sư… hụt!
Nhà khách thị ủy Đăng Phong to lớn như một khách sạn, có cả phòng nghỉ, nhà hàng karaoke và cả massage nữa. Cô lễ tân trẻ đẹp hình như quá quen với các cao tăng bên Thiếu Lâm tự nên nhanh chóng bước ra mời sư phụ và tôi vào bên trong phòng kín.
Bên trong phòng vắng lặng, tôi hỏi sư phụ: “Thế các bạn đồng môn của tôi đâu?”. Ngài bảo: “Các môn sinh đang còn luyện tập, đã cho người đi đón từ chiều”. Từ võ đường của sư phụ về đến thị trấn dễ đến năm cây số, các bạn đồng môn của tôi phải chạy bộ dưới trời mưa tuyết để đến dự tiệc!

Tiệc được dọn lên, quả là một sự phung phí cho đêm “bái sư hụt” này: 18 món ăn! Sư phụ, thầy huấn luyện viên trưởng, một võ tăng - bạn sư phụ - tên Úy Tín Lượng và 10 môn sinh của lớp mà tôi được bố trí cùng học. Thầy cho biết nhiều môn sinh khác đã về quê trú đông, lớp chỉ còn 10 môn sinh, số này nhà quá nghèo nên không có tiền đi xe đò về quê.
Thầy giới thiệu sơ qua từng người và bảo với mọi người: “Môn sinh này tên Nguyên, từ VN sang và sẽ nhập học cùng các đệ tử ngay sau Tết Nguyên đán, chúng ta cùng nâng ly nhân buổi ra mắt này…”. Các đệ tử líu ríu nâng cốc rượu, sư phụ lại càng buồn hơn khi cho đến giờ phút này mà tôi vẫn không chạm cốc với ngài bằng hai tay!
Tôi cũng có ý định xem sư phụ có “phá giới” khi trên bàn tiệc có đến 18 món ăn, trong đó không ít thịt, cá, tôm tép. Sư phụ uống rượu và ăn rất khỏe nhưng quả tình không phá giới, chỉ ăn các món chay. Tàu hủ sữa thầy làm một hơi đến bốn bát, tôi ái ngại cho thân hình hộ pháp của ngài trong những giờ luyện tập Ngọa hổ công, Đàn tử quyền, Thiết ngưu công... những tuyệt kỹ cần thân hình gọn nhẹ và nhanh nhạy!
 
image
 
Sư phụ lại khen tôi có ngũ quan tốt và cái tên quá đẹp (làm tôi vô cùng mắc cỡ!). Ngài nhắc tích xưa Trung Hoa về Bình Nguyên Quân của nước Triệu vốn là “tứ đại công tử” thời Xuân Thu Chiến Quốc, sánh vai ngang hàng với Mạnh Thường Quân của nước Tề thuở trước.
Ngài bảo: “Bây giờ người đã là đệ tử của ta, tuy còn chưa làm lễ bái sư nhưng cần phải học ngay câu này “Nhất nhật vi sư, chung thân vi phụ” (Một ngày cũng là thầy, suốt đời mới là cha). Theo quan niệm của người Hán, mệnh lệnh của sư phụ không thể không làm, lời thầy dạy còn quan trọng hơn cả chiếu chỉ của hoàng đế...!”.

Sư huynh tuổi lên sáu!

image
 
Tôi ít chú ý đến sư phụ nữa mà quay sang trò chuyện với các bạn đồng môn. Tôi chú ý đến Tào Cẩm Cường, quê ở Giang Tây, là đồng môn bé nhất trong võ đường, đến tháng ba này chú mới lên sáu tuổi nhưng đã có hơn hai năm là môn sinh dưới bóng “chân truyền” của sư phụ tổng giáo đầu Thích Diên Truyền.

Ngay từ ngày đầu khi gặp gỡ ở võ đường, tôi đã “thất lễ” khi thấy chú quá bé nhỏ - nhỏ như đứa con gái út của tôi nên đã đưa tay vuốt chiếc đầu trọc của chú. Đang vui vẻ, Tào Cẩm Cường gạt phắt tay tôi và xổ một tràng phương ngữ.
Anh Kim Sơn vừa dịch vừa cười: “Anh đã vi phạm giới luật của chốn võ lâm, cho dù anh lớn tuổi đến đâu nhưng đã nhập môn, đã là đệ tử thì anh phải gọi các chú bé này là sư huynh!”.
Suốt hơn hai năm nuôi mộng võ lâm, chưa một lần Tào Cẩm Cường được gặp lại mẹ. Thầy huấn luyện viên trưởng cho biết nhà của Cường nghèo lắm, vì muốn một cuộc đổi đời cho con sau này mà bà mẹ đã bấm bụng chắt chiu 3.000 nhân dân tệ cho con lên Tung Sơn theo học Thiếu Lâm tự, bà cũng chỉ gói ghém đủ cho con ra bến xe và nhờ người đưa đi, bởi đâu đủ tiền để hai mẹ con cùng vượt ngàn cây số.

Các bạn đồng môn kể những ngày đầu lên đây Cường chỉ khóc suốt, không chịu ăn, học hay làm bất cứ thứ gì vì quá nhớ mẹ, như con bê, con cún tuổi còn chưa dứt sữa ai mà không khóc! Hỏi Cường có nhớ mẹ không, chú ngồi thừ người ra và lắc đầu. Hình bóng người mẹ hình như đã phai mờ khi đằng đẵng bao ngày tháng ấy chú không gặp lại. Mẹ chú không lên thăm, cũng không điện thoại, không một dòng thư, chỉ đến kỳ đóng học phí thì bưu điện chuyển lên cho sư phụ vài ngàn tệ!
Các sư huynh nhỏ tuổi của tôi được ăn một bữa ra trò, ngay cả khi sư phụ đã buông đũa thì các sư huynh vẫn còn hồn nhiên đánh chén. Đa số họ hằng năm trời chỉ cơm rau, mì nhạt mà ngày đêm luyện võ trong môi trường vô cùng khắc nghiệt.
Các môn sinh phải thức dậy từ bốn giờ sáng chạy xuống núi, luyện tập sức chịu đựng về thể lực, khí lực trong mọi địa hình, mọi thời tiết dù mưa sa hay tuyết trắng. Hôm lên Tung Sơn, người ta chỉ cho tôi xem hồ Lộng Nguyệt đã đóng băng, nơi này cũng là chỗ các môn sinh Thiếu Lâm ngày đêm ôn luyện Tù thủy công (lội nước) bất kể mùa hè rực nắng hay mùa đông băng tuyết.
Huấn luyện viên trưởng trong hơi men đã thú thật với tôi về tương lai của những sư huynh tuổi lên năm, lên sáu này: “Đa số khi học ra sẽ xin vào làm vệ sĩ cho các công ty tư nhân, nghề này hiện đang hút người ở khắp các tỉnh thành Trung Quốc. Còn nữ võ sinh thì có thể xin vào làm huấn luyện viên thể dục ở các trường tiểu học, nhưng cũng khó lắm vì trong thời buổi hàng vạn thanh thiếu niên từ nông thôn đổ xô về thành thị kiếm việc làm thì ngàn người phải tranh nhau một chỗ làm là chuyện bình thường…”.

Tào Cẩm Cường tỏ vẻ quyến luyến với tôi nhiều hơn trong đêm họp mặt, chú có vẻ buồn khi sư phụ cho biết tôi sẽ về nước và sang năm mới chính thức sang nhập môn. Sư huynh Cường tuy mới lên sáu nhưng không hiểu sao người ta lại bố trí học chữ cùng với mấy “sư huynh” tuổi lên mười, mười lăm nên một chữ Hán chú cũng chưa viết được!
Tôi hỏi Cường có muốn về quê với mẹ không, chú lắc đầu và chỉ vào các sư huynh lớn tuổi khác: “Các sư huynh này đã tu luyện nơi này hàng chục năm, có ai về đâu!”. Tôi biết tâm hồn của chú giờ đây đã dành trọn cho con đường huyền thoại.
Tôi chỉ biết cầu mong cho chú được như chú bé ăn mày Cẩu Tạp Chủng - Thạch Phá Thiên nghèo nàn, thất học trong Hiệp khách hành của Kim Dung, qua mặt hàng trăm võ tăng Thiếu Lâm, chưởng môn phái Võ Đang, bang chủ Cái Bang hơn 40 năm cố tình tranh đoạt cảnh giới tối cao võ công. Cẩu Tạp Chủng chỉ ngắm bức tranh của Lý Bạch ẩn chứa thần công tuyệt thế trên đảo Hiệp Khách mà vô tình luyện tới cảnh giới tối cao của võ công…
Tôi cũng không hiểu sao mình lại quyến luyến các sư huynh nhỏ tuổi mà hồn nhiên đến thế, tình cảm mà tôi chưa từng có được nơi tổng giáo đầu. Đêm như dài hơn, những cái bắt tay lại càng bịn rịn.
Sư huynh Hoàng Lượng Sảng, 15 tuổi, nắm chặt tay tôi khi tôi gửi tặng các sư huynh vài món quà trẻ con như bánh trái: “Thôi đệ về đi, sang năm lại sang để huynh đệ ta cùng ôn luyện võ công…”. Nhìn cảnh các sư huynh co ro chạy bộ bước ngắn bước dài về lại núi Tung Sơn dưới nền tuyết trắng, tôi biết mình đã có lỗi khi nói dối các sư huynh nhỏ tuổi này…

Tuyệt kỹ cuối cùng của các cao tăng
Qua nhiều thăng trầm động loạn, Thiếu Lâm tự đã từng là nơi binh đao, máu lửa, nơi quan quân triều đình và cả các môn phái khác muốn hạ bệ vị trí “bá chủ võ lâm” của Thiếu Lâm tự trong chốn giang hồ.
Nhiều cao tăng đã xả thân hoặc lên núi ẩn cư để giữ gìn tinh thần của tổ sư để lại -  vừa bảo tồn vừa sáng tạo nên nhiều lối luyện công vô cùng huyền ảo. Nhưng cũng có lúc Thiếu Lâm tự vượt ra khỏi tầm kiểm soát của các phương trượng đại sư...
“Thương hiệu luận kiếm”!

Mùa thu năm 1333 vào đời vua Huệ Tông (Thuận Đế) nhà Nguyên, để chỉnh lý nội bộ Thiếu Lâm đã phát triển môn phái ra ngoài tầm kiểm soát, bốn vị trưởng lão tiền bối đã ẩn cư hơn 20 năm trong núi sâu đã xuất hiện giữa sân Tàng Kinh Các để triệu tập đại hội với sự chủ trì của thiền sư phương trượng Nguyên Hạnh. 700 trưởng tràng chi nhánh, các tân môn, cựu môn, quan nhân… đã về dự.
Thiền sư phương trượng đã cảnh cáo các võ sư nguyên là võ tăng Thiếu Lâm tự xuất chánh tự ý mở dạy bừa bãi kungfu, tuyệt kỹ làm ô uế, mai một uy danh của “ngôi sao Bắc Đẩu chốn võ lâm”. Cũng trong kỳ đại hội chỉnh lý này, các sư trưởng và các võ tăng xuất chánh đã tổng kết từ hàng ngàn phương pháp, cách thức, bí quyết luyện Thiếu Lâm khắp nơi thành pho 72 tuyệt kỹ (thất thập nhị huyền công niên tuyệt kỹ).
Người trong chốn giang hồ chỉ cần luyện một trong 72 tuyệt kỹ cũng đủ để lập ra một võ phái. Từ xưa đến nay sử sách chỉ ghi lại một cao tăng Thiếu Lâm luyện được đến bảy tuyệt kỹ và được phong là kỳ nhân trong giới võ lâm Trung Hoa…
Ngày nay, ngôi chùa cũng như huyền thoại về võ thuật Thiếu Lâm được nâng lên một mức cao hơn và bị thương mại hóa một cách triệt để, nói trắng ra người ta đang khai thác thương hiệu này như muốn vắt kiệt tất cả nội công thâm hậu của nó.
Chỉ riêng tại Trung Quốc đã có đến gần 60 nhãn hiệu, thương hiệu sử dụng “mác” Thiếu Lâm tự; từ bia, rượu, quần áo, thuốc lá, nhà hàng, khách sạn cho đến hàng gia dụng, mỹ phẩm, xe hơi, vỏ xe, hải sản, đồ trang trí nội thất... cũng đều sử dụng cái tên “Thiếu Lâm tự”!
Chỉ riêng tại Đăng Phong - cái nôi của Thiếu Lâm tự - đã có hàng chục võ đường, học viện mang tên Thiếu Lâm tự mà chính tổng giáo đầu Thích Diên Truyền cũng không thể cho tôi biết cái nào là “chân truyền”, cái nào “ngụy phái” - ngay cả quán xá, quán nhậu ở thị trấn này cũng vô số bảng hiệu đàng hoàng treo biển Thiếu Lâm.
Nhiều người Trung Quốc mà tôi đã gặp đều cho rằng cái tên Thiếu Lâm tự đang là “cái máy thu tiền” của nhiều người trong khi họ chẳng hiểu chút gì về võ thuật cũng như không liên quan gì đến ngôi chùa hay cao tăng.
Trong nước chưa đối phó được với nạn “tước đoạt bản quyền” thì ở nước ngoài, thương hiệu Thiếu Lâm tự cũng xô bồ không kém với hàng trăm sản phẩm, nhãn hiệu, nhiều ngôi chùa, võ đường mang tên Thiếu Lâm tự cũng đã đường hoàng mọc lên, thậm chí còn được cấp cả “thương hiệu độc quyền”.

Theo một báo cáo của Văn phòng luật bản quyền và thương hiệu Trung Quốc, chỉ qua một cuộc khảo sát đã cho thấy có đến 117 thương hiệu “Thiếu Lâm Tự” được đăng ký “độc quyền” tại 11 quốc gia và vùng lãnh thổ. Ngay cả thương hiệu chùa mang tên “Thiếu Lâm tự” cũng đã được đăng ký tại ít nhất ba ngôi chùa ở bờ tây nước Mỹ, còn các nước tại châu Âu, châu Á thì không thể thống kê được.
Sư phụ Thích Diên Truyền cũng thừa nhận việc này khi cho tôi biết: hôm võ tăng đoàn của chính chùa Thiếu Lâm sang Mỹ biểu diễn, họ bị chính quyền chặn lại vì đã có người nắm giữ thương hiệu này tại địa phương rồi và cáo buộc chúng tôi vi phạm bản quyền!
Ngay chính “đệ nhất chân truyền” của tổ sư Bồ Đề Đạt Ma mà còn bị “cấm cửa” bởi hàng rào luật pháp quốc tế thì quả là một cuộc “hoa sơn luận kiếm” mới lại bắt đầu nảy lửa binh đao với “thương hiệu Thiếu Lâm Tự… luận kiếm!”.


Công nghiệp khai thác huyền thoại
 
image

Nhiều người dân ở Đăng Phong thầm cảm ơn về sự phát triển của thị trấn, từ một vùng đất miền núi nghèo nàn vài năm trước, nay Đăng Phong đang đứng trước ngưỡng cửa một thành phố công nghiệp - một nền công nghiệp duy nhất: công nghiệp khai thác huyền thoại võ thuật Thiếu Lâm tự.
Từ Đăng Phong kéo dài lên đến chùa Thiếu Lâm không biết cơ man nào là thương hiệu mang tên Thiếu Lâm Tự và hàng trăm lớp võ, võ đường, học viện từ bình dân ổ chuột đến cao cấp như một khách sạn hai, ba sao…
Vào mùa hè, mỗi ngày có đến hàng đoàn xe buýt đổ khách ồ ạt lên Thiếu Lâm tự, khách muốn vào tham quan ngôi cổ tự ngàn năm này phải mua vé 20 nhân dân tệ (phí thuyết minh, xem thi đấu, xe vận chuyển, cáp treo... trả riêng).
Chính quyền địa phương cũng vừa cho xây dựng hệ thống nhà bán hàng lưu niệm, nhà hàng, bãi đậu xe với sức chứa hàng chục ngàn người dưới chân Tung Sơn - con đường dẫn vào ngôi chùa cổ kính ngàn năm bây giờ quả hiện đại và to lớn như một đại công viên hoành tráng, thậm chí hoành tráng đến mức nhiều người đã đến trước cổng tam quan nhỏ bé của Thiếu Lâm tự nằm khuất sau những tàng cây mà vẫn hỏi: “Tới chùa chưa?”.

Công nghiệp khai thác huyền thoại đã lấn át tinh thần thượng võ ngàn đời của Thiếu Lâm tự!
Lần đầu tiên khi nghe đến cái tên Công ty Thiếu Lâm Tự, tôi đã nghĩ có kẻ nào lại mạo danh để đoạt thương hiệu của các cao tăng chùa Thiếu Lâm. Nhưng chính tổng giáo đầu Thích Diên Truyền bảo đó là chuyện nghiêm túc: đây là công ty do chính các cao tăng chùa Thiếu Lâm lập nên để bảo vệ thương hiệu. Tên gọi chính thức là Công ty trách nhiệm hữu hạn phát triển công nghệ Thiếu Lâm Tự Tung Sơn - Hà Nam.

Công ty Thiếu Lâm Tự đã đệ đơn xin đăng ký bản quyền thương hiệu chính thức tại 88 quốc gia - đây được xem là đòn tuyệt kỹ cuối cùng của các cao tăng chùa Thiếu Lâm nhằm giành lại thương hiệu đã bị các “ngụy phái” tước đoạt.
 
image
 
Tổng giáo đầu Thích Diên Truyền cho biết thêm: Công ty Thiếu Lâm Tự đã khởi kiện một số cá nhân, đơn vị trong tỉnh Hà Nam ra tòa, việc phán quyết của tòa chưa ngã ngũ nên cũng chưa biết việc bồi hoàn sẽ ra sao, nhưng chắc chắn họ sẽ phải tháo bảng hiệu, kể cả những học viện, võ đường do chính các cựu cao tăng đứng ra mở vì nó đã không còn là “chân truyền”.
Khi tôi nói có rất nhiều võ đường tại VN cũng mang tên Thiếu Lâm Tự, tổng giáo đầu cho biết hiện Công ty Thiếu Lâm Tự chưa đăng ký bảo hộ thương hiệu tại VN, nhưng trong tương lai chỉ có võ đường nào được cấp giấy chứng nhận của Công ty Thiếu Lâm Tự mới được trương bảng hiệu! Công ty Thiếu Lâm Tự ngoài việc đăng ký độc quyền tổ chức huấn luyện võ thuật, tu học, biểu diễn kungfu trên khắp thế giới, còn có chức năng kinh doanh đủ các ngành nghề mà đời sống thế tục cho phép.
Chưa hết, Thiếu Lâm tự cũng đã trình lên Tổ chức UNESCO xin được xếp chùa này vào danh sách di sản văn hóa của nhân loại...

Mức độ khai thác Thiếu Lâm tự hôm nay thật khủng khiếp! Các cao tăng tuy nội công, khí công vô cùng thâm hậu, kinh kệ thông suốt hơn người nhưng vẫn bị cuốn vào vòng xoáy của cỗ máy kinh doanh. 
 
image
 
Tôi không thể nào quên ánh mắt của vị cao tăng già trừng trừng trút giận vào tôi khi tôi cố chụp ảnh ngài đang phụ giúp một tiểu tăng bán những món hàng lưu niệm cho du khách ở chùa Thiếu Lâm.
Chính làn sóng du lịch, mức độ khai thác hình bóng huyền thoại ngôi chùa, khai thác kungfu cao cường của các cao tăng ở mức độ khủng khiếp này đã làm cho họ trở nên xa lạ trên chính nơi mà họ đã chọn gửi gắm kiếp tu hành từ tấm bé...
Giấy hẹn ngày trở lại nhập môn Thiếu Lâm tự tôi đã bỏ lại Đăng Phong. Tôi đang cố quên tất cả, quên đi thực tế hôm nay, để chỉ giữ lại những hình bóng huyền thoại, dẫu là huyền thoại cũng vẫn cuốn hút hơn nhiều…

BINH NGUYÊN

Thưa Mẹ, Thưa Đảng

                                                                                                      Nhà văn Thùy Linh

Thưa Mẹ!
Con là đứa con gây nhiều phiền muộn cho bố mẹ nhất vì cái tính ngang bướng. Mẹ uốn nắn nhiều mà vẫn luôn sống theo ý mình, nếu cảm thấy điều đó không ảnh hưởng tới ai.

Thuần phong mĩ tục, công dung ngôn hạnh mẹ dạy cũng không làm được bao nhiêu… Con nhất quyết không làm theo chỉ vì những gì được đám đông thừa nhận, trở thành nếp sống, tín điều. Con muốn được đi con đường mà con cảm thấy tự do, hạnh phúc và có ích dù chỉ cho vài người con yêu thương.
Con biết nhiều khi mẹ không muốn con sống như vậy nhưng mẹ vẫn âm thầm chịu đựng để con được sống theo ý mình. Lúc mẹ còn sống, con ít khi chia sẻ lý do tại sao con lại như vậy? Mà có tâm sự với mẹ thì con cũng không thể nói ngọn ngành câu chuyện. Có lẽ vì con sinh ra đã là như thế. Con không thể cố tình nhốt mình vào một khuôn đúc sẵn, để khi ra khỏi đó, hình hài con sẽ bị biến dạng tuy điều đó có lợi cho con. Con đã trung thực với cuộc sống của con cho đến lúc này. Nếu con nói điều này chắc mẹ, và bố nữa sẽ hài lòng về con, cho dù con đang làm ngược lại những gì mà bố mẹ nhọc công theo đuổi với một tâm hồn trong sáng nhưng ngây thơ, ảo tưởng…
Có lần mẹ nói với con một câu sau một sai lầm của con: “Con muốn sống thế nào mẹ không can thiệp. Nhưng sống làm sao để nhiều người có thể không ưa con, ghét con, nhưng không ai có thể khinh con”. Đó là kim chỉ nam cho mọi lẽ sống, cư xử, quyết định của con trong suốt cuộc đời, cho đến lúc này. Nhưng nay con quyết định đứng vào hàng ngũ của những “kẻ suy thoái”. Vì lý do gì xin mẹ hãy bình tĩnh nghe con…

Thưa Đảng!
Không biết vì lẽ gì mà chưa khi nào tôi có ý tưởng được đứng trong hàng ngũ của ĐCS, cho dù bố mẹ tôi, rất nhiều bạn bè yêu quí của tôi đều là đảng viên?
Từ rất trẻ tôi đã không lấy việc vào đảng để làm mục tiêu phấn đấu, kể cả khi giấy đề nghị học cảm tình đảng đưa về tận bàn làm việc. Và khi công việc đòi hỏi vào đảng như một yêu cầu bắt buộc thì tôi cũng lựa chọn cho mình cách sẵn sàng đứng sang bên để khỏi làm một việc mình không thích
Có một lý do rất cụ thể khiến tôi dứt khoát đứng ngoài đảng ngay khi mới ngoài 20 tuổi: lãnh đạo cơ quan nơi tôi làm việc luôn lấy việc vào đảng và tiền lương để làm sức ép với nhân viên, khiến họ phải qui phục ông. Từ đó tôi không thấy việc vào đảng là vinh dự, là sự phục vụ vô tư nữa…
Và với tư cách người cầm bút, càng đứng ngoài mọi tổ chức, tôi càng có thế năng khách quan nhìn nhận mọi việc hơn là hòa tan trong nó. Vậy nên việc trở thành một người tự do là lẽ sống của tôi. Giờ nghe ông tổng bí thư Nguyễn Phú Trong phát biểu về những sự thoái hóa trong xã hội Việt Nam hôm nay. Tôi có lời thề như sau để xin được đứng trong hàng ngũ của những “người suy thoái”. Vì:
- Không muốn đảng cộng sản độc quyền lãnh đạo vì qua 80 năm đã chứng minh, một mình đảng cộng sản độc chiếm quyền lãnh đạo đã khiến đất nước điêu linh. Việc chia sẻ sự lãnh đạo đất nước của chung hơn 80 triệu dân với các chính đảng khác là cách thoát khủng hoảng hiện nay.
- Tôi ủng hộ đa nguyên, đa đảng vì chỉ có sự giám sát của các đảng đối lập thì mới mong đấu tranh với nạn tham nhũng, độc đoán, lạm quyền…Đối lập và phản biện chưa bao giờ là “mồ chôn chủ nghĩa tư bản” thì càng không thể là “mồ chôn” đất nước này, dân tộc này. Chính sự độc quyền lãnh đạo mới là nguy cơ khiến đất nước tụt hậu vĩnh viễn.
- Tôi luôn tham gia ký vào tất cả các kiến nghị, kêu gọi của các nhân sỹ, trí thức yêu nước trong mọi lĩnh vực bức thiết của đất nước: boxit; quyền con người, thay đổi Hiến pháp…Vì tôi nghĩ, đó là trách nhiệm công dân cần phải có ở mỗi người trước vận mệnh tồn vong của đất nước. …

Thưa đảng, Trước khi có đảng cộng sản thì dân tộc Việt Nam đã từng nhiều lần đánh đuổi quân xâm lược và xây đắp những triều đại có nền văn hiến rực rỡ. Sự diệt vong của các triều đại đã minh chứng: chính sự suy thoái của giới cầm quyền mới khiến vương triều sụp đổ.

Tới đây tôi nhớ lại Chu Văn An với “thất trảm sớ” trình lên vua Trần Dụ Tông nhưng đã không được Dụ Tông cứu xét. Chu Văn An đề nghị vua cho chém bảy tên đại gian thần là:
- Mai Thọ Đức – Kẻ cai quản phi tần, đã làm dụng chức quyền để bày các trò dâm ô, trác táng dẫn nhà vua vào con đường vô đạo.
- Trâu Canh – tên ngự y người Hán bày trò giết 21 đứa trẻ lấy mật để vua phục hồi dương khí. Chính y bày trò để vua thông dâm với chị ruột của mình nói là phương thuốc trị bệnh.
- Bùi Khoan – Chính chưởng phụng ngự – kẻ bày trò cờ bạc, rượu chè dơ dáy ngay trong hoàng cung để y được hưởng lợi.
- Văn Hiến – can tội gây bè lập đảng khiến các đại thần chia rẽ, nghi ngờ lẫn nhau. Làm vua không phân biệt được người ngay kẻ gian nịnh.
- Nguyễn Thanh Lương – hành khiến tả ty lang trung, kẻ dẫn vua vào con đường ăn chơi xa xỉ tới cạn kiệt tiền của của quốc dân.
- Tâm Đức Ngưu – Tìm cách tăng thu thuế dân đen, tăng các sắc thuế từ thượng cổ chưa từng có để bòn rút lương dân, chi vào các cuộc ăn chơi của nhà vua. Mặc dân chúng đói kém cũng không tha.
- Đoàn Nhữ Cẩu – Bòn rút khẩu phần ăn của binh lính, các đồ binh khó đã cũ vẫn không thay thế để lấy tiền bỏ túi. Sao nhãng việc luyện quân, để ngỏ biên cương…
Điều tệ hại là lũ gian thần này mượn danh hoàng thượng để làm những việc mà nhìn bề ngoài cứ ngỡ chúng vì lẽ phải, vì vua, nhưng kỳ thực là để nhét vào túi chúng. (Hoàng Quốc Hải – Vương triều sụp đổ)

Bài học từ cổ nhân chưa bao giờ là cũ. Nếu cổ nhân như Chu Văn An là “người suy thoái” trong triều đại Trần Dụ Tông theo cách nói ngày nay, thì tôi tin, không chỉ mình tôi, nhiều người sẽ xin được làm học trò nhỏ của Người. Và, sẽ còn nhiều “trảm sớ” được kiến nghị cho đến ngày đất nước được thay đổi, phát triển, tự do, dân chủ, công bằng, văn minh, hạnh phúc… Sẽ ngày càng càng có nhiều người đứng vào hàng ngũ để được “suy thoái”, thưa đảng.

Nguồn: Blog Thùy Linh

Báo chí trong nước nói về ngày 16 tháng 5

      Cám ơn Internet! 
      Có ai còn điều gì đ nói?

    Văn hóa tranh luận và vấn đề ngụy biện

    Ở Úc, Mỹ, Canada học sinh được dạy phương pháp tranh luận (debate) rất sớm ở trong trường. Có rất nhiều debate technics khác nhau, nhưng điều tối kỵ (và được coi là "vô giáo dục/vô văn hóa") là kiểu "bỏ bóng đá người", tức là thua lý, không thể tranh luận thẳng vào vấn đề và thay vào đó là tấn công cá nhân người đang tranh luận với mình (đơn cử vụ mới nhất là việc ông bầu Đức- HAGL tấn công cá nhân TS Alan Phan).

    Gởi các bạn 1 bài viết hay & có nhiều điều để học hỏi



    Tranh luận có nghĩa là cùng bàn cãi có phân tích lí lẽ để tìm ra lẽ phải. Tranh luận được xem là một nghệ thuật đã có từ rất xa xưa và rất phổ biến trong cuộc sống hàng ngày. Tranh luận có thể diễn ra giữa 2 người, 3 người hay rất nhiều người ở giữa đời thực hay là trên mạng xã hội hoặc diễn đàn. Bất cứ ai cũng có thể tham gia tranh luận nhưng không có nhiều người biết cách tranh luận đúng. Có rất nhiều lỗi dễ mắc phải khi tranh luận, dẫn đến kết cục là cãi nhau chứ không còn là tranh luận để tìm ra lẽ phải nữa. Đặc biệt là đối với diễn đàn trực tuyến, một cộng động thường có nhiều người tham gia và thảo luận, tranh luận nhiệt tình. Tranh luận là bản chất vốn có của diễn đàn vì mục đích khi lập ra diễn đàn chính là để trao đổi, thảo luận trình bày ý kiến, hiểu biết của mỗi cá nhân,... và khi có những bất đồng, đó là lúc tranh luận xảy ra. Để việc tranh luận có kết quả tích cực hơn, theo hướng có lợi cho cộng đồng hơn, xin giới thiệu với các bạn bài viết của tác giả Bàn Tân Định về "Văn hoá tranh luận và vấn đề nguỵ biện". Cùng xem để biết mình đã sai lỗi nào khi tranh luận, làm thế nào để tranh luận theo hướng tích cực và tránh một kết quả không tốt khi tranh luận.

    VĂN HOÁ TRANH LUẬN VÀ VẤN ĐỀ NGUỴ BIỆN

    Tranh luận trên các diễn đàn công cộng là một hình thức trao đổi ý kiến không thể thiếu được trong các thể chế dân chủ và văn minh. Ở nhiều nước Tây phương, lưu lượng của những tranh luận cởi mở và nghiêm túc được xem là một dấu hiệu của một xã hội lành mạnh. Nhưng thế nào là tranh luận nghiêm túc? Nói một cách ngắn gọn, cũng như trong một cuộc đấu võ, một tranh luận nghiêm túc là một cuộc tranh luận có qui tắc hẳn hoi, mà trong đó người tham gia không được, hay cần phải tránh, phạm luật chơi. Những qui tắc chung và căn bản là người tham gia chỉ phát biểu bằng cách vận dụng những lí lẽ logic, với thái độ thành thật và cởi mở, chứ không phát biểu theo cảm tính, lười biếng, hay biểu hiện một sự thiển cận, đầu óc hẹp hòi. Để đạt những yêu cầu này, người tranh luận nghiêm túc trước khi phát biểu hay đề xuất ý kiến, đưa ra lời bình phẩm của mình, cần phải xem xét tất cả các trường hợp khả dĩ, phải cân nhắc những quan điểm và những cách giải thích khác nhau, phải đánh giá ảnh hưởng của sự chủ quan và cảm tính, phải chú tâm vào việc tìm sự thật hơn là muốn mình đúng, sẵn sàng chấp nhận những quan điểm không được nhiều người ưa chuộng, và phải ý thức được định kiến và chủ quan của chính mình. Khi tranh luận phải nhất quán là chỉ xoay quanh chủ đề bàn luận, luận điểm bàn luận chứ không đi lạc đề. Không nhằm vào cá nhân và bản thân của người tham gia tranh luận.

    Đó là những đòi hỏi khó khăn cho một cuộc tranh luận nghiêm túc có ý nghĩa, và không phải ai cũng có khả năng đạt được những yêu cầu này. Thành ra, không mấy ai ngạc nhiên khi thấy có quá nhiều trường hợp chất lượng của cuộc tranh luận rất thấp. Chỉ cần xem qua những lần tranh luận trên các đài truyền hình (ở Úc chẳng hạn), người ta có thể thấy đó không phải là tranh luận, mà là những cuộc đụng độ giũa các cá nhân tham gia tranh luận (nhất là các quan chức) thay vì đương đầu với lí luận của người tranh luận. Ngoài ra, đối với một số lớn chính trị gia, nghệ sĩ, và khoa học gia, được xuất hiện trên ti-vi để bình luận về một câu chuyện nào đó là một cuộc dàn xếp, một lần đóng kịch không hơn không kém. Nó là một kịch bản ngớ ngẩn đã được dàn xếp sẵn. Ngớ ngẩn là vì người xuất hiện chẳng nói được gì cho đầy đủ, mà cũng chẳng phân tích một vấn đề gì cho đến nơi đến chốn. Thực ra, họ xuất hiện để được ghi nhận, để được [nói theo tiếng Anh] là “to be seen”. Đối với các chính trị gia, nghệ sĩ, và khoa học gia loại này, “to be seen” là một phương tiện sống còn của họ trong xã hội, là một cách nói “Tôi vẫn còn đây”. Điều này có nghĩa là càng xuất hiện nhiều trên ti-vi nhiều chừng nào càng đem lại lợi ích cá nhân cho họ. Thành ra, ti-vi ngày nay đã trở thành một tấm gương cho những anh chàng bảnh trai Narcissus hiện đại phô bày bộ mặt của họ, chứ không cống hiến gì nhiều cho một xã hội dân chủ.

    Mà cũng chẳng riêng gì ở Úc, tình trạng nghèo nàn về tranh luận này đã và đang xảy ra ở Âu châu. Trong mấy tháng gần đây, giới khoa học Âu châu đang lên cơn sốt “Holocaust” (cuộc tàn sát người Do thái, trước và trong thế chiến thứ II). Bất cứ một nhà khoa học nào, nghệ sĩ nào dám chất vấn những quan điểm “chính thống” về thực phẩm, về bệnh AIDS, về cuộc xung đột ở Kosovo, về sự kiện hôm 11/9 ở Mĩ, hay về môi trường đều bị dán cho một nhãn hiệu là bạn của Nazi. Giáo sư Bjorn Lomborg mới lên tiếng chất vấn những con số thống kê về môi trường liền bị gắn cho nhãn hiệu “giống như Nazi”. Những ai dám chất vấn mối liên hệ giữa vi khuẩn HIV và bệnh AIDS liền bị tố cáo là “muốn cho thế giới này có một Holocaust thứ hai”. Thật vậy, ở Âu châu ngày nay xuất hiện một xu hướng mà những quan điểm đã được xem là “chính thống” thì không ai được chất vấn. Cái xu hướng này nó đang ăn sâu vào xã hội và giới truyền thông đến nổi một nhà trí thức Anh phải than phiền là nếu không ngăn chận, nó có cơ đem xã hội Âu châu quay trở lại thời Trung cổ, thời mà không ai dám chất vấn những gì Vatican phán.

    Trong cộng đồng người Việt, vấn đề này còn nghiêm trọng hơn. Rất nhiều trường hợp, những cuộc tranh luận trong cộng đồng đã trở thành những cuộc chửi lộn, mà trong đó người tham gia tha hồ vung vít, ném liệng vốn liếng chữ nghĩa qua lại một cách hỗn độn, mà chẳng cần để ý đến logic hay các nguyên tắc của tranh luận là gì. Hơn nữa, rất dễ dàng nhận thấy rằng trong các cuộc tranh luận đó người ta nhắm vào mục tiêu là bản thân, cá nhân của người tranh luận chứ không nhắm vào quan điểm và lí lẽ của người đó. Một đơn cử, mới đây, những bài viết liên quan đến biên giới, thay vì bàn luận thẳng vào vấn đề, người ta có khuynh hướng công kích vào cá nhân người viết. Những danh từ, tính từ hết sức vô văn hóa được mang ra dùng cho tác giả. Thay vì dùng những chữ như Holocaust, Nazi, người Việt có những cụm từ đánh vào chỗ nhạy cảm của quần chúng. Trong hầu như những tranh luận liên quan đến Việt Nam, nhiều người cố tìm hay tạo cho mình một vị trí đạo đức cao cả bằng cách gắn cho đối phương một trong hai cụm từ trên, một thủ đoạn có khả năng làm cho một cuộc tranh luận trở nên một cuộc ẩu đã ngôn từ đinh tai nhức óc. Tại sao anh dám nói chúng tôi sai? Anh là một tên phản bội dân tộc. Tức là, thay vì tranh luận thẳng vào vấn đề, người ta tìm cách gắn cho đối phương một nhãn hiệu, và từ đó làm lu mờ đi quan điểm của họ.

    Thực ra, đó là một hình thức ngụy biện, một lỗi lầm cơ bản nhưng nghiêm trọng trong tranh luận. Nói một cách đơn giản, ngụy biện là những nhầm lẫn trong lí luận và suy luận. Ngụy biện khác với logic. Logic, nói một cách ngắn gọn trong trường hợp này, là những luật lệ hay qui tắc quản lí tính nhất quán trong việc sử dụng ngôn ngữ. Từ nhiều thế kỉ qua, giới triết học Tây phương đã bỏ khá nhiều công sức để phân biệt thế nào là logic và thế nào là ngụy biện. Aristotle là một nhà logic học đầu tiên có công phát triển các qui tắc và hệ thống suy luận. Trong quá trình làm việc, ông phát hiện ra nhiều lỗi lầm mà sau này người ta quen gọi là những “ngụy biện.” Mặc dù Aristotle là một nhà nhà logic học đầu tiên có công liệt kê và phân loại những loại ngụy biện, thầy của ông (Plato) mới xứng đáng được vinh danh như là một nhà triết học đầu tiên đã có công sưu tầm những ví dụ về ngụy biện. Kể từ khi Plato và Aristotle, đã có khá nhiều nhà triết học và logic học như John Locke, John Stuart Mill, Jeremy Bentham, và Arthur Schopenhauer cũng có nhiều cống hiến quan trọng trong việc nghiên cứu về ngụy biện.

    Thực ra, nhận dạng ngụy biện không phải là một việc làm khó khăn. Nói chung chỉ với một lương năng bình dân, người ta có thể phân biệt một phát biểu mang tính ngụy biện với một phát biểu logic. Tuy nhiên, cũng có nhiều dạng thức ngụy biện mà vẻ bề ngoài hay mới nghe qua thì rất logic, nhưng thực chất là phi logic. Những loại ngụy biện núp dưới hình thức “khoa học” này không dễ nhận dạng nếu người đối thoại thiếu kiến thức về logic học hay thờ ơ với lí lẽ. Do đó, một điều quan trọng trong tranh luận là cần phải phát hiện và nhận dạng những hình thức ngụy biện, và quan trọng hơn, cần phải hiểu tại sao chúng sai. Có thể phân loại ngụy biện thành nhiều nhóm khác nhau liên quan đến việc đánh lạc vấn đề, lợi dụng cảm tính, thay đổi chủ đề, nhầm lẫn trong thuật qui nạp, lí luận nhập nhằng, phi logic, và sai phạm trù. Trong khuôn khổ giới hạn của bài viết, người viết bài này không có tham vọng trình bày tất cả những loại ngụy biện một cách chi tiết (vì việc này đã được hệ thống hóa trong nhiều sách về logic học), mà chỉ muốn liệt kê ra những loại ngụy biện thường hay gặp trong báo chí và truyền thông, hầu giúp bạn đọc có thể nhận dạng ra chân-giả.

    Nhóm 1. Thay đổi chủ đề

    1. Công kích cá nhân (ad hominem). Đây là một loại ngụy biện phổ biến nhất, nguy hiểm nhất, và có “công hiệu” nhất, vì nó tấn công vào cá nhân của người tranh luận, và tìm cách trốn tránh luận điểm của cá nhân đó. Hình thức ngụy biện này thường xuất hiện dưới dạng: Ông A phát biểu về một vấn đề; ông B tấn công vào cá nhân ông A, và làm cho người ta nghi ngờ luận điểm của ông A. Tuy nhiên, có thể không có mối liên hệ nào giữa cá nhân và luận điểm của ông A.

    Có hai hình thức thuộc loại ngụy biện này. Thứ nhất là dưới hình thức sỉ nhục, hay chửi rủa. Khi bất đồng ý kiến, người ngụy biện chỉ việc công kích vào cá nhân của người phát biểu. Chẳng hạn như “Ông nói là những người vô thần có đạo đức, vậy mà chính ông là người từng li dị với vợ con,” hay “Ông ta đang làm ăn với phía Việt Nam, tất nhiên ông ta phải nói tốt về Việt Nam”. Đây là một ngụy biện, bởi vì sự thật của phát biểu không tùy thuộc vào cá nhân của người phát biểu mà là logic của lời phát biểu. Một cách ngụy biện khác cũng dựa vào cách nói này là dùng một nhân vật khác, chẳng hạn như “Vậy thì chúng ta hãy đóng cửa nhà thờ cả đi. Hitler đã chắc hẳn sẽ đồng ý với anh.”
    Hình thức ngụy biện thứ hai trong loại này là người ngụy biện cố gắng thuyết phục người đối thoại chấp nhận luận điểm của họ bằng cách đề cập đến hoàn cảnh của cá nhân đó. Ví dụ: “Anh nói là không nên uống rượu, vậy mà anh đã từng ngất ngưởng cả năm qua.”

    Cũng nằm trong loại ngụy biện này là thói dùng một đặc điểm của một vật thể nào đó để ứng dụng cho một cá nhân hay một vật thể khác. Ví dụ: “Anh theo học trong một trường dành cho con nhà giàu. Do đó, anh là một người giàu có, anh không hiểu gì về sự nghèo khổ.”

    2. Lợi dụng quyền lực (ad verecundiam). Đây là loại ngụy biện dùng những nhân vật nổi tiếng hay được nhiều người ái mộ để tìm sự ủng hộ cho luận điểm của mình. Chẳng hạn như “Isaac Newton là một thiên tài, và ông tin vào Thượng đế.” Đây không hẳn là một lí lẽ hư, nó có thể có liên hệ đến một nhân vật có uy tín trong một lĩnh vực nào đó, nếu người ta thảo luận về lĩnh vực đó. Chẳng hạn như phải phân biệt giữa hai phát biểu “Ông Hawking (Stephen Hawking, nhà Vật lí Lí thuyết đương đại nổi tiếng người Anh) kết luận rằng những lỗ đen (black holes) có thể phát ra phóng xạ”, và “Ông Penrose cho rằng xây dựng một cái máy điện toán thông minh là một điều có thể làm được.” Nếu ông Hawking là một nhà vật lí thì chúng ta có thể tin vào ý kiến của ông về những lỗ đen. Nhưng nếu ông Penrose là một nhà toán học, thì chúng ta có quyền chất vấn ông ta có đủ thẩm quyền để bàn về đề tài thông minh nhân tạo hay không?

    3. Lợi dụng quyền lực nặc danh. Trong trường hợp này, người ngụy biện không nêu danh tính người có thẩm quyền, và vì không ai biết tên người có thẩm quyền nên không ai có thể kiểm chứng sự chính xác của lời phát biểu. Một loại ngụy biện khác có quan hệ với loại này là dùng lời đồn đại để làm cơ sở lập luận. Ví dụ như “Một viên chức tình báo trong chính phủ Úc cho rằng chính anh từng hoạt động cho địch.”

    4. Lợi dụng tác phong. Loại ngụy biện này dùng tác phong hay cách làm việc hay một đặc tính nào đó của đối tượng để cố thuyết phục về sự hợp lí của phát biểu. Tiêu biểu cho loại ngụy biện này là những phát biểu như “Nixon thất cử vì ông ta thường hay ra mồ hôi trên trán,” hay “Tại sao anh không nghe theo lời khuyên của anh chàng ăn mặc bảnh bao đó?” Thực ra, “bảnh bao” và “mồ hôi trên trán” chẳng có dính dáng gì đến vấn đề đang bàn thảo.

    5. Luận điệu cá trích. Loại ngụy biện này thường hay được ứng dụng khi một người nào đó đưa vào những phát biểu không dính dáng gì đến vấn đề đang tranh luận, nhằm mục đích đánh lạc hướng vấn đề. Ví dụ: “Anh có thể nói rằng tử hình là một hình thức không có hiệu quả trong việc chống lại tội phạm, nhưng còn nạn nhân của tội phạm thì sao? Gia đình của nạn nhân sẽ nghĩ gì khi họ thấy tên sát nhân người thân của họ bị giam giữ trong nhà tù bằng đồng tiền của chính họ. Họ có nên nuôi dưỡng những tên sát nhân như thế không?”

    6. Luận điệu ngược ngạo. Bằng chứng luôn luôn là gánh nặng của người phát biểu. Do đó, tìm cách di chuyển gánh nặng đó cho một người khác là một thủ thuật giới ngụy biện hay dùng. Chẳng hạn như trong câu này “Được rồi, vậy anh không tin là có người ngoài hành tinh đã từng chi phối đến chính phủ Mỹ, nhưng anh có thể chứng minh điều đó không,” đáng lẽ người phát biểu phải chứng minh, nhưng công việc đó lại được chuyển cho người đối thoại!

    Nhóm 2. Lợi dụng cảm tính và đám đông

    7. Dựa vào bạo lực (ad baculum). Ngụy biện dựa vào bạo lực thực chất là một sự đe dọa, nhằm mục đích gây áp lực cho người đối thoại phải chấp nhận một kết luận nào đó. Loại ngụy biện này thưởng được giới chính khách dùng, và có thể tóm gọn bằng một câu “chân lí thuộc về kẻ mạnh”. Sự đe dọa không hẳn chỉ xuất phát từ người phát biểu, mà có thể từ một người khác. Ví dụ như “Những ai không tin vào Kinh thánh sẽ bị thiêu cháy dưới đáy địa ngục”, hay “Thôi được rồi, tôi đã biết số điện thoại của anh và biết anh đang ở đâu. À, tôi có nói cho anh biết là tôi có giấy phép mang súng chưa nhỉ?”

    8. Lợi dụng lòng thương hại (ad misericordiam). Đây là một loại ngụy biện dựa vào lòng trắc ẩn của người đối thoại để người đối thoại chấp nhận lí lẽ của mình. Ví dụ như “Anh ấy không có giết người bằng búa. Làm ơn đừng tuyên án anh ấy có tội, anh ấy đang trải qua một giai đoạn khủng hoảng tinh thần,” hay “Tôi hi vọng anh sẽ chấp nhận đề nghị này, chúng ta đã tiêu ra ba tháng nay rồi đấy.”

    9. Lợi dụng hậu quả (ad consequentiam). Ngụy biện loại này thường được biểu hiện qua cách phát biểu “A hàm ý B, B là sự thật, do đó A là sự thật”. Ví dụ: “Nếu vũ trụ được một đấng chí tôn thượng đế tạo nên, chúng ta có thể thấy những hiện tượng được tổ chức một cách thứ tự. Và hiện tượng chung quanh chúng ta quả rất thứ tự, vậy đấng chí tôn thượng đế chính là người tạo nên vũ trụ,” hay “Anh phải tin vào Thượng đế, chứ nếu không cuộc đời này sẽ chẳng có ý nghĩa” (hay là nói một cách ngược lại: cuộc sống này chẳng có ý nghĩa gì nếu Thượng đế hiện hữu!)

    10. Lạm dụng chữ nghĩa. Đây là một loại ngụy biện dựa vào dùng những chữ mang cảm tính cao để gắn một giá trị đạo đức vào một đề nghị hay một câu phát biểu. Chẳng hạn như trong câu “Bất cứ một người có lương tri nào cũng phải đồng ý rằng về Việt Nam ăn Tết là làm lợi cho cộng sản,” chữ “lương tri” được cài vào nhằm cho người đối thoại phải nghiêng theo những người có lương tri.

    11. Dựa vào quần chúng (ad numerum). Loại ngụy biện này tin rằng nếu có nhiều người ủng hộ một đề nghị nào đó, thì đề nghị đó phải đúng. Ví dụ như “Đại đa số người dân trong cộng đồng ủng hộ ông Minh, vậy phát biểu của ông Minh ắt phải đúng.” Liên hệ với loại ngụy biện này là hình thức tranh thủ sự ủng hộ của đám đông để cố gắng cho thấy luận điểm của mình là đúng. Ví dụ: “Ai cũng biết Bộ Y tế làm là đúng, sao anh dám nói là sai? Hay là anh muốn nói chúng tôi là những kẻ ngu xuẩn?”

    Nhóm 3. Làm lạc hướng vấn đề

    12. Lí lẽ chẻ đôi. Loại ngụy biện này thường phân định một vấn đề thành hai giá trị: trắng và đen, bạn và thù, có và không, v.v.. dù trong thực tế, có hơn hai lựa chọn. Chẳng hạn như “Hoặc là anh hợp tác với tôi hay là anh chống tôi, anh chọn hướng nào, yes hay là no?”, hay “Đối với Mỹ, anh chỉ có hai lựa chọn: thương hay ghét, trả lời đi!”

    13. Lí lẽ ngờ nghệch (ad ignorantiam). Loại ngụy biện này, như tên gọi ám chỉ, xuất phát từ sự ngờ nghệch. Một trong những cách nói thông thường nhất trong loại ngụy biện này mà giới ngụy biện dùng là nếu một điều gì đó chưa được chứng minh là sai (hay giả) thì điều đó là đúng (hay thật). Ví dụ: “Bởi vì các nhà khoa học chưa chứng minh dioxin có thể gây ra dị thai, do đó dioxin không thể gây ra dị thai,” hay kiểu lí luận của John Howard “Hiến pháp Úc đã tồn tại cả trăm năm nay, và xã hội ổn định, không có lí do gì phải thay đổi hiến pháp”.

    14. Lí luận lươn trạch. Loại ngụy biện này cho rằng nếu một sự kiện xảy ra, các sự kiện có hại khác sẽ xảy ra. Chẳng hạn như “Nếu chúng ta hợp pháp hóa marijuana, công chúng sẽ bắt đầu hút á phiện, và chúng ta cũng sẽ phải hợp pháp hóa á phiện. Rồi chúng ta sẽ là một quốc gia với những người ăn bám vào xã hội. Do đó, chúng ta không thể hợp pháp hóa á marijuana”. Hay một đoạn ví dụ khác:” Tiếc thay một cuộc cải cách về kinh tế, bình bị, tài chánh, xã hội, nông nghiệp như vậy, đang trên đường thành công rực rỡ: bị tan vỡ, bị huỷ bỏ chỉ vì tham vọng đánh Đại việt của Vương An Thạch. Mà đau đớn biết bao, khi người phá vỡ chỉ là một thiếu phụ Việt ở tuổi ba mươi. Giá như Thạch không chủ trương Nam xâm, chỉ cần mười năm nữa, toàn bộ xã hội Trung quốc thay đổi; rồi với cái đà đó, thì Trung quốc sẽ là nước hùng mạnh vô song, e rằng cứ muôn đời mặt trời vẫn nở phương Đông chứ không ngả về Tây như hồi thế kỷ 18 cho đến nay bao giờ.”

    15. Mệnh đề rời rạc. Đây là loại ngụy biện dùng hai (hay nhiều hơn hai) mệnh đề chẳng dính dáng gì với nhau để làm thành một phát biểu hay kết luận. Ví dụ: “Anh ủng hộ tự do dân chủ và quyền mang vũ khí hay không?” hay “Anh đã ngưng làm ăn trái phép chưa?” Câu hỏi sau thực ra hỏi hai vấn đề “Anh từng làm ăn trái phép?” và “Anh đã ngừng hoạt động hay chưa?”

    16. Đơn giản hóa vấn đề. Đây là một loại ngụy biện mà người phát biểu cố tình biến một quan niệm trừu tượng thành một điều cụ thể để bắt lấy thế thượng phong trong đối thoại (nhưng là ngụy biện). Ví dụ: “Tôi để ý thấy anh mô tả ông ta là một người quỉ quyệt. Vậy tôi hỏi anh cái “quỉ quyệt” đó nó nằm ở đâu trong bộ não? Anh không chỉ ra được cho tôi; do đó, tôi có thể nói cái quỉ quyệt không có thực.”

    Nhóm 4. Qui nạp sai

    17. Khái quát hóa vội vã. Loại ngụy biện này cũng khá phổ biến. Nó dùng một ví dụ hay trường hợp nhỏ và từ đó khái quát hóa cho một cộng đồng. Chẳng hạn như “Jim Baker là một tay đạo đức giả. Do đó, các tín đồ Cơ đốc giáo là giả dối.”

    18. Khái quát hóa không đúng chỗ. Đây là loại ngụy biện mà người sử dụng chúng thường áp dụng một qui luật chung cho một tình huống hay một cá nhân. Chẳng hạn như “Người Phật giáo là vô thần. Anh là phật tử, vậy anh chắc chắn là một người vô thần.”

    19. Kéo dài tính tương đồng. Trong loại ngụy biện này, người dùng nó đề nghị một điều lệ chung chung, rồi ứng dụng nó cho mọi trường hợp và cá nhân. Ví dụ: “Tôi tin rằng chống luật pháp bằng cách phạm luật pháp là một điều sai trái”, hay “Nhưng quan điểm đó ghê tởm lắm, vì nó ám chỉ rằng anh sẽ không ủng hộ Martin Luther King,” hay “Anh muốn nói rằng luật về mật mã cũng có tầm quan trọng tương đương với phong trào giải phóng người da đen hay sao? Sao anh dám nói thế?”

    20. Lí lẽ quanh co. Loại ngụy biện này thường lẩn quẩn trong vài giả định và kết luận. Chẳng hạn như “Những người đồng tính luyến ái nhất định không thể nắm chính quyền. Do đó, phải tống khứ những viên chức chính phủ đồng tính luyến ái. Vì thế, những người đồng tính luyến ái sẽ làm mọi cách để dấu diếm hành tung của họ, và họ có nguy cơ bị tống tiền. Do vậy, những người đồng tính luyến ái không được giữa chức vụ gì trong chính phủ.” Tức là trong một lí giải như thế, cả hai giả thuyết và kết luận đều giống nhau.

    21. Đảo ngược điều kiện. Loại ngụy biện này thường được biểu hiện qua hình thức “Nếu A xảy ra thì B sẽ xảy ra, do đó, nếu B xảy ra thì A sẽ xảy ra.” Ví dụ: “Nếu tiêu chuẩn giáo dục bị hạ thấp, chất lượng tranh luận sẽ bị tồi đi. Do đó, nếu chúng ta thấy chất lượng tranh luận suy đồi trong những năm sắp đến, thì điều đó cho thấy tiêu chuẩn giáo dục của ta bị xuống cấp.”

    22. Lợi dụng rủi ro. Ngụy biện này thường dùng một qui luật chung và áp dụng nó cho một trường hợp cá biệt. Ví dụ: “Luật giao thông không cho anh chạy quá 50 km/h. Cho dù cha anh sắp chết anh cũng không được chạy quá tốc độ đó.”

    23. Lợi dụng trường hợp cá biệt. Ngụy biện này thường dùng một trường hợp cá biệt để đem ra ứng dụng cho một đám đông. Ví dụ: “Chúng ta cho phép bệnh nhân sắp chết dùng á phiện, chúng ta nên cho phép mọi người dùng á phiện.”

    24. Kết luận lạc đề. Loại ngụy biện này thường xuất hiện khi một kết luận chẳng dính dáng gì đến lí lẽ mà người biện luận trình bày. Một ví dụ tiêu biểu cho trường hợp ngụy biện này là: “Độ nhiễm arsenic trong nước ở Việt Nam chưa cao và còn trong mức độ cho phép. Dữ kiện của Bangladesh cho thấy tình trạng nhiễm arsenic ở Việt Nam rất trầm trọng.”

    25. Ngụy biện rơm. Loại ngụy biện này cố tình xuyên tạc, bóp méo quan điểm hay phát biểu của người khác, để làm luận điểm tấn công. Đây là một ngụy biện, vì nó không đương đầu với cái lí lẽ đang bàn. Chẳng hạn như: “Chúng ta nên ủng hộ chế độ cưỡng bách quân dịch. Người ta không thích tòng quân vì họ không muốn cuộc sống bị đảo lộn. Nhưng họ cần nhận thức rằng có nhiều điều quan trọng hơn tiện nghi trong cuộc sống.”

    Nhóm 5. Nguyên nhân giả

    26. “Post hoc”. Loại ngụy biện này phát biểu rằng hai sự kiện xảy ra, một trước và một sau, có quan hệ với nhau như nguyên nhân và hậu quả. Ví dụ: “Liên Xô sụp đổ sau khi nhà nước theo chủ nghĩa vô thần. Do đó, chúng ta phải từ bỏ chủ nghĩa vô thần để khỏi bị suy sụp.”

    27. Ảnh hưởng liên đới. Một sự kiện được cho là có ảnh hưởng đến một sự kiện khác, nhưng thực chất thì cả hai sự kiện đều có cùng một nguyên nhân. Đây cũng chính là một trường hợp ngụy biện dưới dạng “post hoc”. Ví dụ: “Chúng ta đang chứng kiến một tình trạng thất nghiệp rất cao, vì do thiếu nhu cầu của người tiêu thụ.” (Nhưng có thể cả hai sự kiện có nguyên nhân từ tiền lời quá cao.)

    28. Ảnh hưởng không đáng kể. Đây là một loại ngụy biện mang tính phóng đại từ một ảnh hưởng rất nhỏ. Chẳng hạn như “Hút thuốc gây ra ô nhiễm môi trường ở Sydney” là một phát biểu đúng, nhưng ảnh hưởng của thuốc lá đến môi trường rất khiêm tốn khi so với ảnh hưởng của khói xe và các hãng xưởng.

    29. Ảnh hưởng ngược chiều. Mối quan hệ giữa nguyên nhân và hậu quả bị đảo ngược chiều để tìm đến một kết luận mang tính ngụy biện. Ví dụ: “Ung thư gây ra thói quen hút thuốc lá”.

    30. Nguyên nhân phức tạp. Một sự kiện xảy ra có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng người ngụy biện có thể đơn giản hóa thành một liên hệ đơn giản. Chẳng hạn như “Tai nạn xe cộ là do đường xá xấu” có thể đúng, nhưng tai nạn cũng có thể do người lái xe ẩu trong một điều kiện xấu.

    31. Nguyên nhân sai (Non causa pro causa). Loại ngụy biện này xảy ra khi một điều nào đó được cho là nguyên nhân của một sự kiện, nhưng nó chưa thực sự được chứng minh là nguyên nhân. Ví dụ: “Tôi uống một viên aspirin và cầu nguyện thượng đế, và tôi không còn bị nhức đầu. Như vậy thượng đế đã chữa trị tôi khỏi nhức đầu.”

    Nhóm 6. Nhập nhằng

    32. Lí lẽ mơ hồ. Dùng những chữ và lí lẽ mơ hồ, tối nghĩa là một hình thức ngụy biện, nhất là khi một chữ hay câu phát biểu được dùng với hai (hay nhiều hơn hai) ý nghĩa khác nhau. Ví dụ, chữ “miễn phí” trong câu sau đây có thể có nhiều nghĩa khác nhau: “Có loại nhu liệu nào rẻ hơn nhu liệu miễn phí? Nhưng để duy trì tình trạng miễn phí, chúng ta cần phải có một hệ thống đăng kí và cung cấp giấy phép cho người dùng.” Một ví dụ khác về cách nói lập lờ là “Các hành động hình sự là bất hợp pháp, và tất cả các phiên tòa xử tội giết người là hành động hình sự, vì thế tất cả các phiên tòa này bất hợp pháp”.

    33. Chơi chữ (Amphiboly). Ngụy biện bằng chơi chữ dựa vào những giả thuyết mơ hồ, nhập nhằng, do bất cẩn thận hay cách phát biểu sai văn phạm. Chẳng hạn như một phát biểu kiểu như “Giả thuyết: tin vào Thượng đế sẽ lấp đi khoảng trống tinh thần” là ngụy biện, vì người “lấp đi khoảng trống tinh thần” là một điều trừu tượng, ai muốn hiểu sao thì hiểu.

    34. Trọng âm (accent). Đây là một hình thức ngụy biện bằng cách dùng thay đổi ý nghĩa của một câu văn qua nhấn mạnh. Ví dụ như câu phát biểu “Chúng ta không nên nói xấu về bạn bè” khác với “Chúng ta không nên nói xấu về bạn bè” chỉ ở chỗ nhấn mạnh (gạch dưới). Người thờ ơ có thể hiểu sai điểm nhấn mạnh của câu phát biểu.

    Nhóm 7. Phạm trù sai

    35. Hỗn hợp. Loại ngụy biện này thường dùng những đặc tính bề ngoài để suy luận cho một điều gì cá biệt. Ví dụ: “Xe đạp được làm bằng những dụng cụ nhẹ kí, do đó, xe đạp rất nhẹ”, hay “Xe hơi dùng ít xăng dầu và không gây ra ô nhiễm môi trường bằng xe bus. Do đó, xe hơi không gây hại cho môi trường bằng tác hại của xe bus.”

    36. Tùy tiện, phi thể thức (ad hoc). Giải thích và lí lẽ là hai điều khác nhau. Nếu muốn xác minh A, và dùng B làm bằng cớ, thì câu phát biểu “A xảy ra bởi vì B xảy ra” là một lí lẽ. Tuy nhiên, nếu muốn xác minh một sự thật về B, thì câu phát biểu “A xảy ra bởi vì B xảy ra” không phải là một lí lẽ mà là một lời giải thích. Ngụy biện theo kiểu phi thể thức là hình thức dùng giải thích sau khi đã có sự thật mà sự thật không ứng dụng vào một bối cảnh khác. Thông thường ngụy biện phi thể thức được khoác vào chiếc áo lí lẽ. Chẳng hạn như nếu chúng ta giả định rằng Thượng đế đối xử công bằng với mọi người, thì những phát biểu sau đây là những lời giải thích phi thể thức: “Tôi mới hết bệnh ung thư”, “Cầu nguyện với Thượng đế đi, Ngài là đấng toàn năng”, “Nhưng Ngài có chữa trị cho những bệnh nhân ung thư khác không”, “À, Thượng đế rất huyền bí.”

    Nhóm 8. Phi logic (non sequitur) và nhầm lẫn trong tam đoạn luận

    37. Phi logic. Ngụy biện phi logic thường xảy ra trong trường hợp một lí lẽ mà kết luận được rút ra từ những tiêu đề không dính dáng gì với nhau. Chẳng hạn như “Người Ai Cập đã từng làm nhiều khai quật để xây dựng những kim tự tháp, họ chắc chắn phải rất thạo về cổ sinh vật học.”

    38. Loại bỏ tiền đề. Ngụy biện loại này thường xảy ra dưới hình thức “nếu A thì B, không phải A thì không phải B.” Ví dụ: “Nếu tôi ở Sài Gòn thì tôi đang ở Việt Nam. Tôi hiện không ở Sài Gòn, do đó, tôi không ở Việt Nam”.

    39. Giả định hư. Đây là một loại ngụy biện bằng cách dùng kỹ thuật phỏng vấn. Một trường hợp cổ điển là “Ông đã ngưng đánh vợ chưa?” Tức là một câu hỏi với một giả định rằng người được hỏi từng hành hung vợ. Đây là một mẹo mà giới luật sư thường hay dùng trong thẩm vấn. “Ông dấu tiền ăn cắp đó ở đâu?” Giới chính khách cũng thích mẹo này, đại khái như “Bao giờ thì nhóm EU này sẽ không còn xâm phạm vào công việc của chúng ta?”

    40. Ngụy biện bốn ngữ. ( Một tiêu chuẩn của tam đoạn luận gồm có 3 chữ). Ví dụ như trong câu phát biểu “Tất cả chó là thú vật, và tất cả mèo là loài động vật có vú, do đó tất cả chó là loài động vật có vú,” có bốn chữ: chó, mèo, động vật, và động vật có vú.

    41. Đứt đoạn. Hai sự vật riêng biệt được xem là có liên hệ nhau nếu chúng có chung đặc tính. Người ngụy biện lợi dụng chữ giữa của một phát biểu để đưa đến một kết luận sai. Chẳng hạn như trong câu “Tất cả người Nga là nhà cách mạng, và tất cả những người theo chủ nghĩa vô chính phủ cũng là nhà cách mạng, do đó, tất cả những người theo chủ nghĩa vô chính phủ là người Nga,” chữ chính giữa là “nhà cách mạng”. Nhưng kết luận này sai, vì dù những người theo chủ nghĩa vô chính phủ và người Nga là những người cách mạng, nhưng họ có thể là hai nhóm cách mạng khác nhau.

    Nhóm 9. Các nhầm lẫn khác

    42. Dẫn chứng bằng giai thoại. Một trong những ngụy biện phổ biến nhất và đơn giản nhất là dựa vào những câu chuyện có tính vụn vặt, hay giai thoại. Chẳng hạn như “Có hàng khối bằng chứng cho thấy thượng đế hiện hữu và vẫn ban phép mầu hàng ngày. Mới tuần rồi đây, tôi có đọc được một câu chuyện về một cô gái sắp chết vì ung thư, cả gia đình cô đi cầu nguyện trong nhà thờ, và chỉ vài ngày sau cô hết bệnh.” Dùng kinh nghiệm cá nhân để minh họa cho một luận điểm là một điều hoàn toàn hợp lí, nhưng dùng những giai thoại như thế sẽ chẳng chứng minh gì. Một anh bạn có thể cho rằng anh từng gặp Elvis ở một siêu thị nào đó, nhưng những người chưa gặp Elvis bao giờ thì cần nhiều bằng chứng xác thực hơn.

    43. Lợi dụng cổ tích. Đây là một loại ngụy biện cho rằng những gì đúng hay tốt chỉ đơn giản vì chúng là cổ xưa, và những người theo cách ngụy biện này thường nói “hồi nào đến giờ ai cũng vậy.” Chẳng hạn như “Hàng trăm năm nay, Úc chịu dưới sự cai trị của Hoàng gia Anh, và là một nước thịnh vượng. Một thể chế tồn tại lâu dài như thế ắt phải là một thể chế ưu việt.”

    44. Dựa vào cái mới (ad novitatem). Ngược lại với loại ngụy biện dựa vào cái cũ, ngụy biện dựa vào cái mới cho rằng một điều gì đó tốt hơn và đúng hơn đơn giản chỉ vì nó mới hơn cái khác. “Windows 2000 phải tốt hơn Windows 95, Windows 2000 mới được thiết kế lại năm ngoái.”

    45. Lí lẽ của đồng tiền. Loại ngụy biện này thường dựa vào một niềm tin duy nhất rằng đồng tiền là một tiêu chuẩn của sự đúng đắn. Những người có nhiều tiến có khả năng đúng hơn những người ít tiền. Chẳng hạn như “Nhu liệu của hãng Microsoft đương nhiên là tốt hơn; nếu không thì làm sao Bill Gates có thể trở nên tỉ phú như thế”.

    46. Dựa vào cái nghèo. Ngược lại với ngụy biện dựa vào sự giàu có, có một loại ngụy biện khác dựa vào sự nghèo khổ. Chẳng hạn như “Các vị sư có khả năng hiểu thấu được ý nghĩa của cuộc sống, bởi vì họ từ bỏ mọi xa hoa của cuộc sống.”

    47. Điệp khúc (ad nauseam). Loại ngụy biện này cho rằng một lí lẽ càng được lặp đi lặp lại nhiều chừng nào thì nó sẽ được người ta chấp nhận là đúng. Do đó, người ngụy biện thường chỉ lặp đi lặp lại những phát biểu, bất kể là quái dở thế nào, cho đến khi người đối thoại mệt mỏi không còn muốn nghe nữa.

    48. Lạm dụng thiên nhiên. Đây là một ngụy biện rất thông thường trong giới chính trị gia, mà trong đó họ tìm cái tương đồng giữa một kết luận nào đó và một khía cạnh của thế giới tự nhiên, rồi từ đó phát biểu rằng kết luận đó là không thể tránh khỏi. Chẳng hạn như “Đặc điểm của thế giới tự nhiên là cạnh tranh; động vật đấu tranh chống nhau để làm chủ tài nguyên thiên nhiên. Chủ nghĩa tư bản, một hình thức cạnh tranh để làm chủ tư liệu, chỉ đơn giản là một phần của con người sống trong thế giới tự nhiên. Đó cũng là cách mà thế giới tự nhiên vận hành.”

    Một hình thức khác của lạm dụng thiên nhiên là lí luận cho rằng bởi vì con người là sản phẩm của thế giới tự nhiên, chúng ta phải bặ bắt chước hành động theo những gì chúng ta thấy trong thế giới tự nhiên, và làm khác đi là “phi tự nhiên”. Ví dụ: “Đồng tính luyến ái dĩ nhiên là không tự nhiên. Có khi nào anh thấy hai thú vật cùng giới tính giao phối với nhau không?”

    49. Ngụy biện “Tu quoque”. Đây là một trong những ngụy biện rất phổ biến. Nó dựa vào lí lẽ rằng một hành động có thể chấp nhận được bởi vì người đối nghịch đã làm. Chẳng hạn như “Anh là một người lừa dối.” “Rồi sao? Anh cũng là một tay lừa dối vậy.”

    50. Lạm dụng thống kê. Thống kê thường được giới ngụy biện sử dụng tối đa, vì theo họ thống kê có thể dùng để “chứng minh” bất cứ điều gì. Người ta có thể vặn vẹo hai con số 1 và 3 điểm để sản xuất những phát biểu như “khác nhau 2 điểm”, “cao gấp 3 lần”, hay “tăng 200%”; người ta có thể dựa vào ý kiến đồng tình của 4 người trong 5 người để cho là “80% người được thăm dò”, hay thậm chí “đa số cộng đồng” đồng ý với một luận điểm nào đó. Tức là những khái quát hoá một cách vội vã, hay dựa vào một mẫu số cực kỳ thấp, thấp đến độ nó không có nghĩa lí gì. Thực ra, thống kê không chứng minh điều gì cả. Thống kê chỉ là một phương tiện hay thuật toán dùng để loại bỏ những trường hợp khả dĩ hay không khả dĩ. Vì có quá nhiều ngụy biện thống kê, nên vấn đề này sẽ được bàn tiếp trong một dịp khác. Tuy nhiên, những ai thích tìm hiểu vấn đề ngụy biện thống kê có thể tìm đọc cuốn sách rất nổi tiếng của Darrell Huff, có tựa đề là “How to lie with statistics” (tạm dịch: “Làm thế nào để lừa dối bằng thống kê”).

    ***
    Có thể nói những loại ngụy biện trên đây có những đặc điểm chung là (a) phát biểu không dựa vào lí lẽ logic; (b) các định đề không vững để đi đến một kết luận; và (c) đưa ra giả định không đúng. Ngụy biện, do đó, nói cho cùng, là một sản phẩm của sự lười suy nghĩ. Và hầu như trong chúng ta, ai cũng có ít nhất là một lần lười suy nghĩ. Do đó, nếu điểm qua những loại ngụy biện trên đây, chúng ta tự cảm nhận rằng trong quá khứ mình chắc cũng có lần phạm vào lỗi lầm của ngụy biện. Điều này có thể đúng, và không nên lấy làm ngạc nhiên, vì các nhà thông thái, và ngay cả giới có huấn luyện về logic học cũng đôi khi, vì cố ý hay vô tình, ngụy biện. Giới chính trị gia và truyền thông là những người cực kỳ nổi tiếng về ngụy biện.

    Nhưng tại sao những ngụy biện vẫn còn có mặt trên báo chí? Theo tôi, bởi vì chúng vẫn có khách hàng. Vẫn có người, dù ít hay nhiều, tin tưởng vào ngụy biện, vì nó thuận nhĩ, trơn tru, và nhất là không thách thức. Sờ một hòn đá trơn tru đem lại cho chúng ta một cảm giác khoan khoái dễ chịu hơn là sờ một hòn đá lởm chởm, hay ngồi trên một cái ghế ghồ ghề. Người ta thích sự trơn tru, bởi vì trơn tru là dấu hiệu của sự khoan khoái, dễ chịu, là cái khoảng thời gian giải lao, không cần sự thách thức.

    Có lẽ, ở một khía cạnh nào đó, điều này cũng không đến nỗi tệ, bởi vì những ngụy biện phản ánh sự thành công [hay có người nói sự phong phú] của ngôn ngữ trong việc tách rời giữa những gì thô thiển, gồ ghề với những gì hoàn thiện, mĩ miều. Nhưng sự trơn tru của các vật thể và ngôn ngữ ngày nay đem lại cho chúng ta một cảm giác giả tạo về thế giới thực của các vật thể. Những kỳ kẹt xe trên đường xá mới để lộ trái tim phức tạp của một thành phố. Tương tự, một sự cố của internet sẽ nhắc nhở chúng ta về tình trạng hỗn mang và phức tạp của hệ thống thông tin điện tử. Sự hỗn mang và phức tạp là thực. Trơn tru, tròn trĩnh có thể là giả tạo. Những câu văn ngụy biện có thể chỉ là những lời phát biểu lém lỉnh thay vì lịch thiệp, hàm chứa mánh khóe thay vì thân thiện. Có thể nói, ngụy biện là những lối sáo ngữ liến thoắng nhằm vào mục đích lôi cuốn người nghe/đọc, thay vì cung cấp cho họ một sự thực.

    Bởi vì ngụy biện là những lí lẽ mà bề ngoài có vẻ logic, nên chúng có khả năng thuyết phục những người không chịu khó suy nghĩ, nhất là những người còn mang nặng cảm tính. Điều này giải thích tại sao nhiều người trong chúng ta tiếp nhận một cách thụ động quá nhiều những điều càn rỡ về thế giới chung quanh, kể cả những niềm tin tôn giáo, những mê tín dị đoan, những triết lí quái đảng, những thông tin sai lạc, v.v.. Cái tác hại của việc tiếp nhận thụ động này là nó làm cho chúng ta trở nên nô lệ với cảm tính, và dễ dàng trở thành những tín đồ cuồng tín của những người “lãnh đạo” chính trị hay tôn giáo.

    Để không trở thành những nô lệ, chúng ta cần phải suy nghĩ nghiêm túc. Suy nghĩ nghiêm túc là một quá trình hoạt động tri thức nhằm ý niệm hóa, ứng dụng, phân tích, tổng hợp, và (hay) đánh giá những thông tin được thu thập từ quan sát, kinh nghiệm, phản ánh, lí luận, hay liên lạc, như là một niềm tin cho hành động. Chúng ta cần phải dựa vào những giá trị tri thức với những đặc điểm như trong sáng, chính xác, nhất quán, có liên hệ, bằng chứng tốt, lí lẽ hợp lí, có chiều sâu, và công bình. Tức là, trước một câu phát biểu hay một đề nghị, chúng ta phải thẩm định lại kết cấu và nguyên tố của phát biểu hay đề nghị đó. Những kết cấu và nguyên tố này là: mục đích, vấn đề, giả định, quan niệm, bối cảnh, kết luận, ngụ ý, hậu quả, phạm vi tham khảo, và quan điểm khác.

    Người Việt chúng ta thường rất tự hào về những đối thoại [mà chúng ta cho là “thông minh”] giữa Trạng Quỳnh và Chúa Trịnh ngày xưa. Nhưng nói một cách công bằng và theo tiêu chuẩn của lí luận logic, thì những trao đổi của Trạng Quỳnh hay tương tự chỉ là những ngụy biện ở trình độ thô sơ nhất [*]. Nhưng có điều đáng buồn là những đối thoại kiểu Trạng Quỳnh, mà trong đó sự hơn thua nhau từng câu nói, bắt bẽ nhau từng chữ, vặn vẹo ý nghĩa của từng câu văn, v.v… lại đi vào sử sách, như thể để làm gương cho thế hệ sau này. Mà làm gương thật. Cho đến ngày nay, có người vẫn còn cho đó là một biểu tượng của sự thâm thúy, thông minh của dân tộc, là phản ánh sự phong phú của ngôn ngữ Việt, và đem ra ứng dụng trong tranh luận.

    Theo dõi báo chí, chúng ta thấy những hình thức tấn công cá nhân (thay vì tấn công vào luận điểm), xuyên tạc ý tưởng, chụp mũ, suy luận theo cảm tính, mỉa mai, đơn giản hóa vấn đề, v.v… xuất hiện hầu như hàng ngày, có khi hàng giờ. Vì những tần số của những loại ngụy biện xuất hiện quá nhiều như thế, nó thành một sự rập khuôn. Theo thời gian, rập khuôn trở thành “truyền thống”. Hậu quả của cái truyền thống này là những ai ra ngoài cái khuôn sáo của ngụy biện đều có thể bị xem là phi chính thống, dẫn đến một lối suy nghĩ và phán xét kì quặc kiểu “anh/chị không thuộc nhóm của tôi, vậy thì anh/chị thuộc nhóm bên kia,” “anh khen Việt Nam, vậy anh là cộng sản,” “giọng nói anh ‘Bắc kì 75’, vậy anh là cộng sản,” hay “Nhà nước cho anh ra ngoài này trình diễn, chắc anh là cộng sản đi tuyên truyền”… Anh ở phía này, tôi bên kia. Nói tóm lại, đó là một lối phân định theo hai giá trị: xấu và tốt, đen và trắng, hay địch và ta một cách cứng nhắc. Cách phân định này thể hiện một sự nghèo nàn về trí tuệ, hay lười biếng suy nghĩ. Chỉ cần đặt vấn đề ngược lại một chút, hay phát triển vấn đề xa hơn một chút, ai cũng có thể thấy lối phân chia có/không này không thể đem đến một đáp số cho một vấn đề nào cả.

    Trong cái sự thực phức tạp, mờ mờ ảo ảo của vấn đề, có cái đẹp riêng. Không phải cái đẹp trơn tru, tròn trĩnh, nhưng là cái đẹp khắt khe của sự thật. Tương tự, một lời phát biểu nghịch lí có cái đẹp của nó, vì nó có thể đánh thức chúng ta về một thế giới phức tạp, một thế giới không nằm gọn trong đúng/sai, tốt/xấu, bạn/thù. Có lẽ đã đến lúc chúng ta nên vượt qua chính mình bằng cách cho các tế bào trí tuệ có cơ hội làm việc.

    —————————-
    Chú thích:

    [*] Đơn cử về câu chuyện “Mèo chúa, mèo dân”, chuyện kể như sau: Chúa Trịnh có một con mèo mà Chúa rất đỗi yêu quí. Mỗi bữa ăn của mèo Chúa đều cho mèo ăn cơm thịt cá. Muốn chơi khăm Chúa, Quỳnh bèn bắt trộm con mèo của Chúa đem về nhà mình. Đến bữa ăn, Quỳnh đem ra hai đĩa thức ăn, một đĩa cơm rau, một đĩa cơm thịt, và Quỳnh cầm chiếc roi chờ đấy. Do quen ăn thịt cá nên con mèo của Chúa chạy ngay sang đĩa thức ăn quen thuộc của mình. Mỗi lần như vậy thì Quỳnh dùng roi quất cho con mèo rõ đau. Chừng vài lần thì con mèo thôi không dám bén mảng đến đĩa cơm thịt nữa, đói quá rồi cũng ăn cơm rau ngon lãnh. Tin Quỳnh ăn cắp mèo rồi cũng đến tai Chúa. Chúa sai Quỳnh đến hỏi cho ra cớ sự. Quỳnh lí lẽ: Mèo của chúa là mèo cao sang đài các, nên bữa ăn cũng sang trọng; còn tôi nhà nghèo, nên mèo tôi cũng chỉ ăn cơm rau. Bây giờ nếu Chúa bảo tôi đánh cắp mèo của Chúa, hãy thử đem ra đây hai đĩa thức ăn, một đĩa có thịt một đĩa chỉ cơm rau. Nếu mèo ăn cơm thịt là mèo của chúa, mà nếu nó ăn cơm rau thì là mèo của tôi”. Chúa ưng thuận bèn sai y truyền. Con mèo của Chúa vẫn theo bản năng của mình, nhưng khi thấy Quỳnh nhấp nhấp cái roi, nó sợ quá, bèn bước qua đĩa cơm rau ăn ngon lành. Quỳnh mới vỗ tay reo lên :”Đấy mèo của Chúa thì phải ăn thịt cá, còn mèo dân của tôi chỉ ăn cơm rau, thì rõ là mèo của tôi chứ tôi có đánh cắp mèo của Chúa bao giờ!”. Nói rồi Quỳnh đắc thắng ôm con mèo của Chúa đi thẳng, để mặc cho Chúa tức giận, biết bị Quỳnh chơi khăm mà không làm gì được.

    Ở đây lí luận của Trạng Quỳnh phạm phải lối nguỵ biện “loại bỏ tiền đề” như đã nêu ở trên.

    Theo: Ykhoanet.com