Tuesday, April 30, 2013

Lời Ngỏ


   Ai từng được sinh ra, được nuôi dưỡng, lớn khôn theo năm tháng trên mảnh đất quê nhà, mới thấu hiểu vì sao mình quá đổi yêu thương mảnh đất khổ nghèo oằn nặng hai vai. Ai từng đổ những giọt mồ hôi lặng thầm, bươn chải trong khốn khó để tạo dựng một mái ấm gia đình, mới thấy tim quặn thắt khi phải chia lìa mái nhà dấu yêu, nơi những đứa con thương yêu lần lượt chào đời, bên nhau khôn lớn… 


       Yêu là thế, quý là thế, nhưng rồi cũng đành lòng quẩy gánh ra đi, tìm một điều thiêng liêng không gì đánh đổi được- hai tiếng Tự Do.

       Tự do vừa là bản chất tự nhiên, vừa là khát vọng không nguôi của một con người.  Nghe tuy thật đơn giản, nhưng vô cùng quý giá.  Bao nhiêu quốc gia , bao nhiêu dân tộc nhọc nhằn máu đổ để đánh đổi lấy những quyền tự do thiêng liêng ấy. Tự do mạnh mẽ và vĩ đại, bởi lẽ tìm kiếm nó trở thành bản năng sống còn của con người. Càng thiếu tự do, con người càng khao khát tự do, như lúc con người bị giam hãm trong bốn bức tường, thấy khao khát được vẫy vùng cùng đất trời biển rộng.

       Khát vọng tự do là ý tưởng để trang web này được hình thành, như một nơi chốn cho những tư tưởng không hạn định, không biên giới tụ họp về đây, cùng nhau chia xẻ buồn vui trong đời sống hàng ngày, cùng trao đổi thông tin, kiến thức, học hỏi kinh nghiệm, trau dồi bản thân, giúp đỡ cho những hoàn cảnh khốn khó,  luôn ủng hộ cho hòa bình và quyền tự do của mỗi con người.

       Xin chọn Trống đồng làm tên gọi cho trang web này. Trống đồng là một nhạc khí, như tâm hồn của người dân Việt hiền hòa yêu âm hưởng trầm bổng của những khúc dân ca. Nhưng trống đồng cũng là biểu tượng bất khuất của con cháu Lạc Hồng, khi nước nhà bị đe dọa bởi giặc ngoại xâm. Tiếng trống âm vang của thời vua Hùng dựng nước. Tiếng trống vang rền của vua cha cầu mong mưa thuận gió hòa, cho dân lành an hưởng cây lành quả ngọt. Tiếng trống của niềm tự hào dân tộc, như chúng tôi  vẫn luôn tự hào là  những đứa con của đất mẹ Việt Nam.

       Đã cùng chia xẻ buồn vui của những ngày tháng cũ, thì hãy cùng bên nhau trong những tháng ngày còn lại quý giá này. Hãy vui cùng không khí trong lành mà mình đang hít thở, hãy làm những điều đáng làm mà không sợ bất cứ trở ngại gì, hãy nói lên những điều tự đáy con tim mà không sợ lưới vây bao phủ, hãy là chính mình với bầu không khí tự do.

       Vào với Trống đồng, chúng tôi chỉ mong các bạn một điều thật đơn giản. Đó là đem hết con tim đầy nhiệt tâm, khối óc đầy sáng tạo, tự do tham gia ý kiến để xây dựng một trang web vững mạnh trên tinh thần tôn trọng lẫn nhau.

Admin
April 30, 2013


Monday, April 29, 2013

30 Tháng Tư


Nếu tháng Tư đì đùng pháo nổ
Vang vọng như tiếng súng ngày xưa
Nếu tháng Tư chợt đổ cơn mưa
Dòng nước mắt tủi hờn mất nước
.
Nếu Phật Trời ban cho điều ước
Xin được quay ngược lại thời gian
Tháng Tư xưa không cảnh nát tan
Không điểm mốc triệu tù cải tạo
.
Nếu miền Nam xưa không thay áo
Tháng Tư không cớ để vượt biên
Không niềm đau viễn xứ triền miên
Cây còn gốc, chim còn có tổ
.
Nếu tháng Tư xưa không “Người cùng khổ”
Nay mọi người không khổ cùng nhau
Mỗi tháng Tư về, dăng dẳng nỗi đau
Jewish Việt không miền đât Hứa…
.
Nếu một mai tôi không còn nữa
Chôn tháng Tư thật kỹ cùng tôi
Cho Tự Do không chỉ đầu môi
Cho nước Việt thật đời giải phóng…
.
att

Tâm trạng của người tỵ nạn

Con gái 1 người bạn vẽ, con bé sinh ra và lớn lên ở Mỹ, chưa từng về VN...
Tâm trạng của người tỵ nạn !
-By Mikhai Lê-

Friday, April 26, 2013

Thực trạng sinh viên ra trường

Thực trạng sinh viên ra trường

Đầu đường Xây dựng bơm xe
Cuối đường Kinh tế bán chè đậu đen
Ngoại thương mời khách ăn kem
Các anh Nhạc viện thổi kèn đám ma
Ngân hàng ngồi dập đô la


In giấy vàng mã, sống qua từng ngày
Sư phạm trước tính làm thày
Giờ thay kế toán, hàng ngày tính lô.
Điện lực chẳng dám bô bô,
Giờ đang lầm lũi phụ hồ trên cao.
Lập trình chả hiểu thế nào,
Mở hàng trà đá, thuốc lào...cho vui
Nông nghiệp hỏi đến ngậm ngùi
"Số em chắc chỉ tiến lùi theo trâu"
Nhìn quanh, Thương mại đi đâu?
Hóa ra là đã nhảy tàu đi buôn.....
Ngoại ngữ vẻ mặt thoáng buồn
Đang ngồi viết sớ, kiêm luôn bói bài.
Báo chí buôn bán ve chai
Giao thông đi chở thuê ngoài Đồng Xuân.
Bách khoa cũng gặp đôi lần
Buôn đồ điện hỏng, kiếm cân dây đồng
Mỹ thuật thì đang chổng mông
Đục khắc bia mộ, cũng mong lên đời
Mỏ địa chất mới hỡi ôi
Sáng thồ hai sọt, chào mời mua than
Thuỷ sản công việc an nhàn
Sáng cân mớ cá, cuối làng ngồi rao...!
Hàng hải ngồi gác chân cao
Bao giờ trúng số mua tàu ra khơi
Bác sĩ, y tá có thời
Học xong về huyện được mời chích heo...
(Có người đối lại rằng:)
Thơ hay nhưng mà xin can,
Thực trạng một góc, bi quan làm gì!
Thiệt hơn khoan hãy so bì,
Lạc quan, thực tế, có chi không thành.
Chẳng qua chỉ học không hành,
Thị trường không rõ, không rành mà thôi.
Cuộc đời vốn nó cứ trôi,
Ai không bắt kịp thì thôi, bên lề.
Cuộc đời vốn lắm ê chề,
Nhưng mà nghĩ thoáng, có hề chi đâu!

Tuesday, April 23, 2013

Các bạn nghĩ gì về việc đổi tên nước Việt Nam?

 Tôi tình cờ đọc được ý kiến 1 người ký tên PnC trên trang bbc.co.uk/vietnamese mà tôi thấy chí lý. Các bạn VN nghĩ sao?
Tôi không quan tâm lắm với chyện đổi tên nước và đổi tên Đảng lắm. Suốt một thế kỷ nay Việt nam đã có rất nhiều vận hội để có thể trở thành một nước phát triển hơn tuy nhiên dường như vận số nó vậy. Nếu hai ông Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh thành công thì Việt nam có thể được canh tân từ năm 1930. Nếu chiến tranh Nam Bắc không xảy ra thì Nam Việt nam có thể chỉ kém Hàn Quốc đôi chút.

Ngày nay canh bạc đã gần tàn, các nước khác ai cũng hiểu là kinh tế phát triển mới là thước đo tầm vóc của một quốc gia, một dân tộc chứ không phải việc đánh đá, a dua theo phe này hay phe khác.
Con đường của dân tộc Việt nam ư? Nếu thay đổi thì sẽ xảy ra tranh giành đổ máu bởi mối thâm thù tích đọng hàng chục năm nay và người chịu thiệt thòi lại chính là người dân. Nếu cứ để vậy thì tụt hậu so với thế giới. Thay đổi tên ư? để làm gì? nó có khác gì chuyện gọi tên con trâu là bò
PnC

Some other comments:
-->
- Tôi không nghĩ rằng nếu tôi đổi tên con nghé của tôi đang nuôi thành con bê và gọi cái đầu của nó là cái đuôi , con trâu tôi nuôi sẽ mau lớn hơn, mạnh khoẻ hơn, cái "đuôi" của nó sẽ thông minh, sáng suốt hơn.
- Đặt tên “Đảng Cầm Quyền”, theo tôi là hợp lí và chắc ăn nhất. Hợp lí thứ nhất là vì nó nói rõ, khẳng định không ấp a ấp úng cái tham vong, cái vai trò của đảng ta…
- Chuyện đổi tên đảng Cộng sản thành đảng Lao động, tôi nghĩ cũng giống như ông Hai Lít đổi tên thành ôngTám Xị vậy mà thôi…
-Khi gặp thời tiết xấu hay gặp nguy hiểm, con tắc kè lại thay đổi màu da của nó, nhưng vẫn là con tắc kè mà thôi.
-Miếng ván ấy đã ọp ẹp rồi thì thay luôn miếng ván khác, ai lại chỉ quét lớp sơn khác. Đổi tên như đổi lớp sơn khác thôi. Tôi nghĩ toàn dân Việt Nam chỉ muốn thay đổi một chế độ khác biết thương dân yêu tổ quốc Việt Nam.

Nghệ sĩ Việt Dzũng.

Có ai biết rằng Việt Dzũng đã bị xử án tử hình vắng mặt ở VN ?
--------------------------------------------------------------------------------------------------- 
Nghệ sĩ Việt Dzũng.

 

Suốt hon ba mươi năm nay, Việt Dzũng là một cái tên quen thuộc với hầu hết mọi người Việt đang sinh sống ở hải ngoại, kể cả rất nhiều người dân trong nước cũng biết đến tên anh..Nhưng cho tới nay vẫn chưa có ai viết cho thật đầy đủ về người nghệ sĩ đa tài này và những đóng góp to lớn của anh trên nhiều lãnh vực khác nhau, nhứt là trong địa hạt ca nhạc và truyền thông đại chúng. 
Bên cạnh đó, anh cũng thường xuyên là đề tài cho các tờ báo trong nước tấn công từ hơn hai chục năm nay, với những lời vu cáo, mạ lỵ nhằm dìm anh xuống đáy vực sâu. Nhưng người nghệ sĩ và chiến sĩ tranh đấu cho nhân quyền này vẫn manh dạn vượt qua tất cả những khổ nạn chập chùng, oan khiên chất ngất và càng ngày anh càng được nhiều người yêu mến anh thêm. Cũng chính biến cố 30 tháng tư năm 1975 cùng với sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam đã đưa Việt Dzũng rời xa quê hương mà cho đến nay chưa một lần nào anh đặt chân trở lại. Cùng với 36 người chen chúc nhau trên một chiếc tàu nhỏ bé, mong manh, Việt Dzũng và bà ngoại của anh đã vĩnh viễn rời xa gia đình và đất nước Việt nam. Sau 22 ngày trên biển khi không còn thức ăn, nước uống, cũng như phải chứng kiến biết bao nhiêu cảnh đau thương trên biển cả, tàu của họ mới cập được bến Singapore. Nhưng liền sau đó, tất cả lại bị chuyển qua một chiếc tàu khác và thẳng đường tới trại tị nạn Subic ở Phi Luật Tân. Chính những kinh nghiệm sống trên đường vượt biển tìm tự do này đã khiến cho anh sáng tác rất thành công các ca khúc để đời sau này, mà tiêu biểu nhất vẫn là “Lời Kinh Đêm” với những câu ca: … “Thuyền trôi xa … về đâu ai biết ? Thuyền có về …ghé bến tự do ? Trời cao xanh … hay trời oan nghiệt Trời có buồn … hay trời vẫn làm ngơ ?… … Người buông xuôi về nơi đáy nước Người có mộng một nấm mồ xanh ? Biển ngây ngô hay biển man rợ Biển có buồn hay biển chỉ làm ngơ …?” Chưa đầy 17 tuổi mà đã rời xa mái ấm gia đình, bỏ lại sau lưng tất cả những người thân yêu, bè bạn, mái trường yêu dấu với những sinh hoạt vui tươi của tuổi học trò. Chắc chắn là có những khoảnh khắc anh Nguyễn Ngọc Hùng Dũng chợt nhớ lại quãng đời niên thiếu ngập tràn kỷ niệm của mình, đã bỏ lại sau lưng tận bên kia bờ Thái Bình Dương. Từ nhỏ anh đã là một học sinh xuất sắc của trường Lasalle Tabert ở Sài Gòn, cũng như anh trai và đứa em trai kế của anh. Người chị lớn của anh thì đang du học bên Nhật Bản về ngành giáo dục. Ba của anh là bác sĩ Nguyễn Ngọc Bảy, cựu Dân Biểu của nền đệ nhị cộng hoà Việt Nam và cũng là Thiếu Tá Y sĩ trưởng Bộ Tổng Tham Mưu và Sư đoàn 5 QLVNCH. Mẹ của anh là giáo sư trường nữ trung học Gia Long ở Sài Gòn. Việt Dũng đã yêu thích âm nhạc từ khi còn rất trẻ và được các sư huynh ở trường Lasalle Tabert chỉ dạy rất tận tình. Trong lúc gia đình mong cho anh sau này trở thành Bác sĩ để nối nghiệp cha, thì Việt Dzũng lại đam mê ca hát, văn nghệ văn gừng. Anh thường cùng các bạn học trình diễn ca nhạc ở những buổi văn nghệ liên trường. Việt Dzũng đã từng chiếm giải nhất ở cuộc thi văn nghệ của trường Tabert và đại diện trường đi tham dự các buổi hát ủy lạo chiến sĩ VNCH, cũng như tham dự vào những đại hội nhạc trẻ khắp nơi bên cạnh những tên tuổi nổi danh thời bấy giờ như Trường Kỳ, Nam Lộc, Jo Marcel, Tùng Giang, Đức Huy, Elvis Phương.v.v.. Đó là khoảng thời gian từ năm 1971 cho tới tháng tư năm 1975. Giờ đây (tháng 6-1975), tại trại tạm cư Subic, chàng thanh niên trẻ Việt Dzũng tạm quên đi những kỷ niệm thật đẹp ở quê nhà mà bắt tay ngay vào đời sống mới. Với số vốn Anh ngữ học được ở trung học và tính tình hoạt bát, Việt Dzũng liền tham gia hoạt động trong ban tổ chức và điều hành trại, đón tiếp và giúp đở nhiều chuyến tàu tị nạn lần lượt cặp bến Subic cho đến khi trại này đóng cửa. Rời trại tị nạn này, Việt Dzũng cùng bà ngoại được đưa sang đảo Guam, rồi chuyển sang trại Ft. Chaffee ở tiểu bang Arkansas. Trong thời gian này Việt Dzũng hoạt động không ngừng nghỉ, từ việc đón tiếp đồng bào tị nạn mới tới, sinh hoạt trong hội Hồng Thập Tự, hội USCC, cộng tác với tờ báo của trại, chương trình phát thanh của trại, làm thông dịch viên giúp đỡ rất nhiều người chung quanh. Ở lại trại gần đến ngày cuối cùng trước khi trại đóng cửa, anh được Đức cha Bernard Law, Giám Mục địa phận Springfield, Missouri, bảo trợ và gởi đến tạm trú trong một gia đình người Mỹ.
Năm 1976, Việt Dzũng tiếp tục học lớp 11 ở trường trung học St. Agnes, Missouri và tự trau dồi thêm về âm nhạc theo như sở thích và đam mê từ nhỏ của anh. Tại đây, anh bắt đầu sinh hoạt ca hát với các anh chị em thuộc cộng đồng Việt Nam. Anh cũng từng xuất hiện trên đài truyền hình KOZK21 ở Springfield.
Một năm sau (1977), Việt Dzũng được đoàn tụ với gia đình ở Wood River, tiểu bang Nebraska. Năm đó anh tốt nghiệp trung học tại trường Wood River. Năm 1978, Việt Dzũng chính thức bước vào lãnh vực âm nhạc khi cùng một người bạn học chung trường tên là Vernon Larsen lập ban song ca để hát theo lối du ca (troubrador) của Mỹ, tên “Firebirds” (Chim Lửa). Đôi song ca này chuyên hát nhạc đồng quê của Hoa Kỳ (American country music). Việt Dzũng sử dụng tây ban cầm và cùng người bạn Mỹ đi trình diễn khắp nơi ở vùng Trung Mỹ, kể cả các club nhạc của dân địa phương. Nhiều người Mỹ đã tỏ ra rất ngạc nhiên khi thấy một thanh niên Á châu hát nhạc đồng quê rất thành thạo, trôi chảy nên đã dành cho anh thật nhiều thiện cảm. 
Cũng năm 1978 này, Việt Dzũng đoạt giải nhất về sáng tác nhạc country music tại cuộc thi Iowa Grand Old Orphy. Thật ngạc nhiên khi anh là người Việt Nam đầu tiên, mà cũng là người Á châu đầu tiên chiếm giải nhất về bộ môn sáng tác country music với bài hát hoàn toàn bằng Anh ngữ. Ngay sau đó, một hãng dĩa về country music đã mời anh cộng tác để thực hiện một Album nhạc đồng quê, nhưng anh đã từ chối vì muốn tiếp tục học ở Đại học theo ý muốn của song thân. Cũng trong năm này, Việt Dzũng bắt đầu sáng tác nhạc Việt với bài hát đầu tiên là “ Sau Ba Năm Tỵ Nạn Tại Hoa Kỳ”, viết về thân phận người dân xa xứ với những đau đớn chia lìa. Bài hát thứ hai là “Một Chút Quà Cho Quê Hương” đã trở thành một ca khúc lẫy lừng nhất của Việt Dzũng, được mọi người yêu thích cho đến tận hôm nay. Đó là thời gian người Việt tỵ nạn bắt đầu gửi quà về cho thân nhân ở quê nhà, chia sẻ những khổ đau chất ngất, đọa đày dưới chế độ mới như những lời ca sau đây: “Em gởi về cho anh dăm bao thuốc lá Anh đốt cuộc đời cháy mòn trên ngón tay … Gởi về cho mẹ dăm chiếc kim may Mẹ may hộ con tim gan quá đoạ đày … Gởi về cho chị hộp diêm nhóm lửa Chị đốt cuộc đời trong hoang lạnh mù sương Gởi về cho mẹ dăm gói trà xanh Mẹ pha hộ con nước mắt đã khô cằn …. Con gởi về cho cha một manh áo trắng Cha mặc một lần khi ra pháp trường phơi thây Gởi về Việt Nam nước mắt đong đầy Mơ ước một ngày quê hương sẽ thanh bình …” 
Nhớ lại những ngày đầu tiên làm quen với sinh hoạt văn nghệ của người Việt tha hương, khi Việt Dzũng theo người chú họ về San Antonio, Texas thăm gia đình người bạn nhân dịp tết Nguyên Đán 1979. Tại Hội Chợ Tết nơi đây, anh đã lên sân khấu, ôm đàn guitar trình bày hai ca khúc mà anh vừa sáng tác. Hát xong, nhìn xuống khán giả thì mọi người đã đầm đìa nước mắt và túa ra ôm ấy anh khi anh rời sân khấu. Việt Dzũng đã chinh phục bà con đồng hương nơi đây kể từ lúc này. Năm sau 1980, Việt Dũng trình diễn tại một đại nhạc hội ở Omaha, Nebraska với Sĩ Phú và Mai Lệ Huyền. Sau đó anh đã hát với Khánh Ly, Hoàng Oanh, Trung Chỉnh ở Denver, Colorado những bài hát do anh sáng tác. Ngay lúc đó, Khánh Ly đã chọn ba bài hát của anh là: “Lời Kinh Đêm, Mời Em Về, Một Chút Quà Cho Quê Hương” đem về California thâu vào băng nhạc “Một Bông Hồng Cho Người Ngã Ngựa” (nhà văn Mai Thảo viết lời giới thiệu). Ba bài hát này đã là những bài hát nằm lòng của hàng triệu người Việt nhiều năm sau đó (kể cả ở trong nước).
Năm 1980, là năm mà số người Việt bỏ nước ra đi cao nhất, Việt Dzũng đã cho ra mắt cuồn băng nhạc đầu tay “Kinh Tỵ Nạn” do Trung Tâm Nhã Nhạc tại Houston, Texas thực hiện. Ngay tuần lễ đầu băng nhạc này đã được đón nhận nhiệt liệt từ California đến tận Canada, số bán sau đó đã lên đến cả trăm ngàn ấn bản. Lúc đó, Việt Dzũng đã quyết định chính thức di chuyển qua California sinh sống và sinh hoạt văn nghệ để có thể phát triển tài năng của anh nhiều hơn. Đầu tiên, anh được nhạc sĩ Ngọc Chánh mời hát cho đại nhạc hội ở Orange County và tiếp tục lưu diễn khắp nơi. Anh cũng đã hoàn thành cuồn băng nhạc thứ nhì tên là “Lưu Vong Khúc” vào giai đoạn này.
Trước đó, vào năm 1978 anh đã gặp ca nhạc sĩ Nguyệt Ánh tại Đại Hội Thanh Niên Cách Mạng Việt tại thủ đô Washington DC và hai người liền kết nghĩa chị em. Cả hai cùng sáng tác chung một đường lối và họ đã kết hợp thành một đôi song ca trình diễn khắp nơi trên thế giới, chỉ trừ các nước cộng sản mà thôi. Tại Mỹ, họ đã lưu diễn hầu hết 50 tiểu bang, kể cả những tiểu bang có rất ít người Việt sinh sống. Tại Á châu, họ đã hát ở Nhật hơn ba lần, hát cho các phái đoàn ngoại giao, tòa tổng lãnh sự, sứ quán Mỹ ở nhiều nước như Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương, Phi Luật Tân, v.v…
Nhưng chuyến lưu diễn ở Âu Châu của Việt Dzũng và Nguyệt Ánh phải coi là một chuyến lưu diễn lịch sử. Đã có hàng ngàn người Việt từ khắp nơi đón xe lửa đến gần địa điểm trình diễn, cắm trại nằm chờ trước hai ba ngày khai mạc để gặp hai thần tượng của họ. Ở Úc Châu khán giả cũng nhiệt liệt đón chào Việt Dũng và Nguyệt Ánh. Họ đã đi hết những thành phố có người Việt cư trú kể cả những nơi hẻo lánh như Perth và Darwin. Đã có nhiều bài báo và cả hai cuốn sách xuất bản ở Úc được viết ra để ca tụng cho lý tưởng đấu tranh chống cộng và ước mơ ngày về quang phục quê hương của đôi nghệ sĩ này.
Ngay lúc đó, chính quyền Cộng Sản Việt Nam liền lên án Việt Dzũng và Nguyệt Ánh là hai kẻ phản động số một, tuyệt đối cấm phổ biến tất cả các nhạc phẩm của họ trong nước. Trong một phiên tòa sau đó, CSVN đã kết án tử hình khiếm diện hai nghệ sĩ này.
Ngày 1 tháng Tư năm 1985, hai nghệ sĩ này đã kết hợp với những ca nhạc sĩ khác để thành lập Phong Trào Hưng Ca Việt Nam, dùng âm nhạc làm vũ khí đấu tranh chống lại kẻ thù. Cho đến nay, Phong Trào Hưng Ca Việt Nam vẫn còn hoạt động đều đặn với những tên tuổi khác như Huỳnh Lương Thiện, Trương Sĩ Lương, Xuân Nghĩa, Tuấn Minh, Tuyết Mai, Lưu Xuân Bảo..v.v..Trong suốt thời gian hơn 25 năm này, Việt Dzũng vẫn tiếp tục có những hoạt động đều đặn, liên tục và bền bỉ để tranh đấu cho người tị nạn Việt Nam. Từ những buổi văn nghệ gây quỹ cho các con tàu với người vượt biển như Cape D’Anamur, chương trình SOS Boat People, vận động chống lại chương trình cưỡng bách hồi hương người tị nạn, tranh đấu với quốc tế tại Genève, Thụy Sĩ, tại Liên Hiệp Quốc…Có thể nói, bất cứ nơi nào có người tị nạn Việt Nam là có bước chân Việt Dzũng mang tiếng đàn, tiếng hát của anh để binh vực cho họ, sưởi ấm tấm lòng của họ, mang niềm tin yêu và hy vọng cho họ vượt qua những khổ cực, đau buồn và mất mát trên đường vượt biên.
Anh đã có mặt hầu hết các trại tị nạn ở vùng Đông Nam Á để thăm viếng, ủy lạo đồng bào, giúp đở trẻ em không thân nhân và hàng ngàn công tác xã hội khác mà không hề biết mệt. 
Cũng trong năm 1985 này, Việt Dzũng đã cho ra đời một băng nhạc hoàn toàn bằng Anh ngữ “Children of the Ocean”. Đây cũng là album nhạc đầu tiên của người Việt hải ngoại bằng tiếng Anh. Các tờ báo Orange County Register, Los Angeles Times, Washington Post đều có những bài viết khen ngợi cuốn băng này. Riêng tờ Austin-American- Stateman đã gọi Việt Dzũng là “người nghệ sĩ nổi tiếng nhất của cộng đồng người Mỹ gốc Việt, và là một tấm gương sáng giá, chứng tỏ là người tỵ nạn có thể hội nhập vào đời sống mới, trong khi vẫn giữ được nguồn gốc của quê hương mình.” Về truyền thông, Việt Dzũng đã mở ra một cánh cửa khác để cho thấy một tài năng thiên phú và đa dạng ở anh.
Sau một thời gian dài làm báo, tháng 7 năm 1993 Việt Dzũng được mời làm xướng ngôn viên chính cho chương trình phát thanh tiếng Việt đầu tiên ở Nam California, phát thanh 6 tiếng đồng hồ mỗi ngày là đài Little Saigon. Cũng cần nhắc lại là trước đó các đài phát thanh đều làm chương trình theo kiểu ngày xưa, nghĩa là thâu thanh trước đàng hoàng, kỹ càng từng tiết mục và tới giờ là cho phát thanh lên. Nhưng lần đầu tiên, Việt Dzũng đã tạo ra một phong cách mới: anh đưa ra những chương trình trực tiếp truyện trò cùng thính giả (talk back) trong buổi phát thanh. Nên không khí rất vui nhộn và hào hứng, náo nhiệt vô cùng. Sau này các đài phát thanh ở Mỹ và ngay cả ở bên Việt Nam cũng bắt chước theo lối này. Kể cả các đài BBC, VOA phát thanh về Á Châu, cũng thay đổi cách làm việc như cho xướng ngôn viên được phép đùa giởn với thính giả chớ không đọc tin một cách nghiêm trang như ngày xưa. 
Ngoài việc phổ biến tin tức, âm nhạc, thể thao cuối tuần, giải trí cuối tuần, tin tức Hollywood …VD còn thực hiện chương trình đặc biệt nhất là chương trình “Tâm tình với nghệ sĩ” được rất nhiều thính giả ưa thích. Chương trình này lúc đầu phát từ 11 đến 12 giờ trưa hàng ngày trên làn sóng 967 FM của đài KWIZ. Sau đó mỗi tuần phát hai ngày thứ hai và thứ tư. Trong vòng hơn hai năm, mà Việt Dzũng đã phỏng vấn trên 350 nghệ sĩ. Từ những ca sĩ nổi tiếng như Thanh Thúy, Thanh Tuyền, Chế Linh, Lệ thu, Ý Lan, Vũ Khanh …cho đến những ca sĩ mới xuất hiện ở hải ngoại sau này như Mạnh Đình, Dạ Nhật Yến, Thanh Trúc, Phi Nhung … Những nghệ sĩ đến từ các tiểu bang xa cũng được mời phỏng vấn như Hà Thanh, Từ Công Phụng, Trường Kỳ, Châu Hà, Văn Phụng .v.v…Trong tất cả các chương trình phỏng vấn này, nóng bỏng nhất và đặc biệt nhất phải nói là chương trình phỏng vấn nữ ca sĩ Ngọc Lan. Vì từ trước tới nay, Ngọc Lan không nhận lời cho ai phỏng vấn cả (vào thời điểm đó), chỉ có một lần cô trả lời trên đài VOA; và Việt Dzũng là người duy nhất phỏng vấn được Ngọc Lan vào tháng 10 năm 1994. Bốn năm sau( 1996), Việt Dzũng cùng các bạn đứng ra thành lập một chương trình phát thanh độc lập, đó là đài Radio Bolsa, phát thanh trên ba làn sóng khác nhau ở Nam California, Bắc California và Houston, Texas. Hiện nay (2006), Radio Bolsa đang phát sóng trên 106.3 FM, 1190 AM (Nam California) và 1430 AM (San Jose) với Việt Dzũng và Minh Phương là hai xướng ngôn viên chủ lực cùng với các xướng ngôn viên khác như Nguyễn Phú, Uyên Thy, Mai Trang…Việt Dzũng đã tạo sự gần gũi, thân mật giữa xướng ngôn viên với thính giả từ trẻ đến già, ở nhà cũng như đang lái xe đi làm với những chương trình đa dạng và phong phú hàng ngày. Dĩ nhiên là với kỷ thuật phát thanh digital, mọi người trên khắp thế giới cũng có thể nghe được các chương trình phát thanh này trên mạng thông tin toàn cầu bất cứ lúc nào. (http://www.radiobolsa.com/) Tuy công việc hàng ngày của anh thật bận rộn như vậy, nhưng ngoài thời gian làm việc ở đài phát thanh, Việt Dzũng còn chứng tỏ là anh có khả năng làm báo rất thành công. 
 
Kể từ năm 1980, anh đã cộng tác với tờ Người Việt (trang song ngữ Tuổi Trẻ). Sau đó anh về làm Tổng Thư Ký cho tờ Nhân Chứng năm 1982. Tờ Tay Phải (của Du Tử Lê) năm 1983. Về Houston làm Tổng Thư ký cho tờ Việt Nam Thương Mại năm 1988. Trở lại California làm thư ký cho tờ Sài Gòn Nhỏ một thời gian và sau đó cộng tác với tờ tuần báo Diễm từ năm 1990. Năm 1992 trở thành Thơ ký toà soạn cho tờ nguyệt san Hồn Việt cho đến bây giờ. Việt Dzũng cũng là cộng tác viên của nhiều cơ quan truyền thông khắp nước Mỹ như tờ Phố Nhỏ (Washington DC), Thế Giới Mới (Dallas, PL), Phương Đông (Seattle, WA), Mõ Magazine (San Jose, Sacramento, San Francisco & Oakland), Làng Văn (Canada), Nhân Quyền (Úc), Tin Điển (Đức) .v.v. Hầu như lúc nào Việt Dzũng cũng có những dự tính và dự án trước mặt, nhưng không làm sao có đầy đủ thời giờ để lo cho xuể. Chỉ nói riêng về mặt sáng tác âm nhạc thì cho đến nay Việt Dzũng đã sáng tác hơn 450 bài hát về đủ mọi thể loại. Những bài hát về tỵ nạn đã được phổ biến rộng rãi trong hai tập nhạc “Kinh Tỵ Nạn (1980) và “Lưu Vong Khúc” (1982). Những bài hát này được viết ra như một thôi thúc về những điều phải nói ra trong những năm lạc lõng của đời lưu vong nơi xứ người. Sau đó là các ca khúc đấu tranh, quang phục quê hương. Nhưng nhiều nhất vẫn là tình ca, sáng tác rất nhiều nhưng chưa phổ biến hết. Những bản tình ca nổi tiếng của Việt Dzũng có thể kể ra như Bài Tango Cuối Cùng, Thung Lũng Chim Bay, Khóc Ru Đời Trinh Nữ, Bên Đời Hiu Quạnh, Có Những Cuộc Tình Không Là Trăm Năm, Và Em Hãy Nói Yêu Anh, Tình Như Cây Cà-Rem… Năm 1990, Việt Dzũng thành lập riêng cho mình Trung Tâm Việt Productions, chuyên sản xuất các CD nhạc với tiếng hát của anh và bằng hữu như các CD: Ru Em Sông Núi Đợi Chờ, Thánh Ca Vào Đời, Hùng Ca Quật Khởi, Quê Hương Và Em, Mình Ơi Đưa Em Về Quê Hương, Thắp Lửa Yêu Thương, Lên Đường, Bên Em Đang Có Ta, Tuổi Trẻ Về Nguồn, Hát Cho Tự Do, Thắp Lửa Tự Do, Trái Tim Ở Lại, Anh Vẫn Còn Thương, Vuốt Mặt, Bên Bờ Đại Dương …
Sau hai mươi năm hoạt động không ngừng nghỉ trên mọi lãnh vực và được nổi danh khắp nơi, được hàng triệu người ái mộ (nhứt là giới trẻ ở hải ngoại), nhưng cũng có lúc Việt Dzũng cảm thấy rất cô đơn. Anh đã từng bày tỏ cảm nghĩ của riêng anh trong một lần phỏng vấn năm 1995 với nhà báo Trường Kỳ như sau: “Nhìn vào đời sống nghệ sĩ, ai cũng cũng chỉ thấy những rực rỡ của ánh đèn sân khấu, của những tràng pháo tay và của nhữNg rộn rịp âm thanh. Đời sống của nghệ sĩ không phải chỉ có vậy. Còn có những giọt nước mắt âm thầm mỗi đêm, những đắng cay tủi nhục và những cám dỗ chập chùng đi kèm. Cá nhân Việt Dzũng không bao giờ muốn trở thành ca sĩ. Chỉ muốn làm một nhạc sĩ ghi lại những nỗi suy tư của một đời người, và những rung động mà mình bất chợt tìm thấy. Vì thế, nên khi nghe một ca khúc, khi thưởng thức một nhạc phẩm nào, hãy nghe bằng sự rung động của chính tâm hồn mình. Bạn sẽ thấy người nhạc sĩ đó đang mang trái tim của họ trải rộng cho bạn nhìn, như một tấm tranh vẽ. Có thể bạn sẽ bắt kịp những nét chấm phá trong tranh. Có thể bạn chỉ ơ hờ lướt mắt qua rồi thôi. Nhưng dù gì đi nữa, mỗi ca khúc hay mỗi bức tranh vẫn là một hiện diện trong đời sống. Và hãy cảm ơn sự hiện diện đó, vì nếu không cuộc đời sẽ chỉ là những vô nghĩa kéo dài. (Việt Dzũng trong “Tuyển Tập Nghệ Sĩ”, 1995) Thực ra, nỗi cô đơn ấy cũng chỉ thoáng qua mà thôi. Những dự án, kế hoạch vẫn được anh theo đuổi càng lúc càng nhiều, choáng ngộp. Việt Dzũng tâm sự là anh mong cho một ngày dài thêm 48 tiếng đồng hồ, thay vì chỉ có 24 giờ để anh có thể hoàn thành bao nhiêu công việc đang vây bủa lấy anh. Ngày tháng vẫn trôi nhanh, trôi nhanh. Những hoạt động của anh gần đây thì nhiều vô số kể. Chỉ nói riêng về sinh hoạt với Phong Trào Hưng Ca Việt Nam thôi, thì những lần công tác nổi bật nhất là: Phát động chiến dịch “Tưởng Niệm 50 năm Hiệp Định Genève (1954-2004)”, biểu tình trước trụ sở Liên Hiệp Quốc tại Genève (Thụy Sĩ) ngày 3-4-2004 Đại nhạc hội Cứu Trợ Nạn Nhân Bão Lụt Katrina tổ chức ở Houston (17.9.2005), sau chương trình “Chén Gạo Tình Thương” do Phong Trào Hưng ca phát động từ ngày 9.9.2005. Đại nhạc hội “Đêm Tình Thương” phối hợp với cộng đồng người Việt ở Dallas Fortworth va Trung Tâm ca nhạc Asia (tháng 9-2005) Chương trình văn Nghệ gầy quỹ cứu trợ nạn nhân cơn bão Katrina tổ chức ở Wichita. Những chương trình Đại Nhạc Hội gây quỹ giúp Thương Phế Binh VNCH ở khắp nơi …. Trong những chương trình gây quỹ từ thiện và văn nghệ đấu tranh đó, Việt Dzũng đã đến với đồng hương bằng cung cách rất bình dị thân thương. Luôn luôn có những bạn trẻ vây quanh, tíu tít thăm hỏi, chụp hình chung với anh. Có những bà mẹ già vẫy tay gọi anh lại gần chỉ để được nắm tay anh, nói vài ba câu thăm hỏi với niềm rưng rưng cảm xúc. Nhưng tài năng đặc biệt nhất và nổi bật của anh là kể từ năm 1996 khi anh cộng tác với Trung Tâm Ca Nhạc Asia để làm MC hướng dẫn các chương trình video và đại nhạc hội trực tiếp thu hình. Anh cũng cộng tác với đài truyền hình SBTN trong việc soạn và đọc tin tức hàng ngày, cùng nhiều tiết mục khác cho chương trình phát hình liên tục 24 giờ mỗi ngày. 
Trước đó anh cũng đã từng nhiều lần làm MC cho các buổi đại nhạc hội, các buổi biểu tình, những lần gây quỹ từ thiện …Riêng ở các chương trình của Trung Tâm Asia thì anh đã hợp tác viết thuyết minh và giới thiệu cho các chủ đề, các tài năng mới trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Vì từ lâu nay Trung Tâm Asia là một trong hai trung tâm hàng đầu về ca nhạc ở hải ngoại được tiếng là luôn luôn có nhiều sáng kiến mới lạ và nâng đở cho những tài năng trẻ tuổi trong lãnh vực ca hát. Rất nhiều chương trình Video của Asia có các chủ đề đầy tình người, không nhằm mục đích thương mại, nhưng rất thành công như “Người Lính”, “Những Tình Khúc Thời Chinh Chiến”, “Tình Ca Anh Bằng”. 
Vài năm gần đây lại có những chương trình Asia video thật giá trị như “Âm Nhạc Vòng Quanh Thế Giới” (phát hành 27/2/2004), “Tiếng Hát Trái Tim” (thu hình 20/3/2004), “Mùa Hè Rực Rỡ 2005″ (thu hình 22/7/2005). Nhưng đặc biệt nhất là video “Hành Trình Tìm Tự Do”( phát hành 24/6/2005), khán giả đã thực sự xúc động khi thấy Việt Dzũng trở lại các đảo tị nạn ở Đông Nam Á để làm phóng sự video, gợi nhớ cảnh vượt biển của những thuyền nhân tỵ nạn liều chết ra đi tìm tự do ngày xưa. Cũng chính những chương trình video này, khi được chuyển về Việt Nam cùng với các DVD khác như “Cuộc Đổi Đời Bi Thảm, Triệu Đóa Hồng Cho Người Phụ Nữ VN, Cuộc Khổ Nạn của Người VN (Dạ Lan), và gần đây là Asia 50 “Vinh Danh Nhật Trường” và Asia 51 “Nhạc Vàng, Tình Khúc Sau Cuộc Chiến” … đã khiến nhà cầm quyền Việt Nam vô cùng tức tối, khi nhìn thấy Việt Dzũng vẫn tiếp tục xuất hiện trong vai trò làm MC. Nên vào ngày 18/9/2006 tờ báo Công An Thành Phố HCM đã bắt đầu đăng hai bài viết với đủ thứ ngôn từ hạ cấp nhằm mạ lỵ, phỉ báng và bôi nhọ cá nhân Việt Dzũng thật nặng nề. Có thể nói lần này là lần anh bị những người Cộng Sản VN “đánh” nặng nhứt từ trước đến nay. Nhưng cũng chính những bài báo này đã khiến cho mọi người càng thấy rõ bộ mặt nham hiểm, quỷ quyệt của Cộng Sản VN như thế nào và cũng làm cho nhều người thông cảm, yêu mến và chia sẻ nhưng oan khiên, thống khổ của người nghệ sĩ này nhiều hơn. Với tất cả những mũi tên tẩm thuốc độc bắn thẳng vào anh, Việt Dzũng chỉ im lìm, không lên tiếng biện minh hay viết bài đính chính. Anh vẫn âm thầm tiếp tục thực hiện những dự án và càng hăng say hoạt động, cống hiến tài năng của mình cho đồng hương như anh đã làm suốt hơn ba mươi năm nay. Lúc nào cũng vậy, anh vẫn luôn luôn là một đứa con cưng của tổ quốc và quê hương Việt Nam. Anh vẫn tiếp tục con đường tranh đấu cho nhân quyền và quang phục quê hương trong niềm tin rằng chế độ Cộng sản sẽ cáo chung trong một tương lai rất gần. 
Duy-Khiêm

Sunday, April 21, 2013

Trí thức và độc tài

Đọc lịch sử các chế độ độc tài, từ độc tài phát xít với những Hitler và Mussolini đến độc tài cộng sản với những Stalin, Mao Trạch Đông, Pol Pot, Nicolae Ceauşescu, và Kim Chính Nhật (bây giờ là Kim Chính Ân) hay độc tài quân phiệt với những Saddam Hussein, Muammar Gaddafi, Robert Mugabe…chúng ta không thể không ngạc nhiên.


Có rất nhiều điều để ngạc nhiên.
 
 Thứ nhất, tất cả các tên độc tài, dưới nhiều nhãn hiệu khác nhau, đều vô cùng tham lam và độc ác. Chúng thâu tóm toàn bộ quyền lực trong tay và với quyền lực vô tận ấy, giết vô số người, từ những kẻ thù thực sự đến những kẻ thù tưởng tượng, trong đó phần lớn là chính dân chúng ở nước chúng.
 
 Thứ hai, tất cả đều mắc bệnh huyễn tưởng, tự xem vị thế và quyền lực của mình như một thứ gì thuộc về thiên mệnh; và vì thiên mệnh, chúng nằm ngoài hoặc nằm trên không những luật pháp mà còn cả các nguyên tắc đạo lý thông thường của con người. Giết người, thậm chí, giết vô số người, với người khác, là tội ác; với chúng, là thiêng liêng và cao cả. 
 
 Thứ ba, vì căn bệnh huyễn tưởng ấy, rất nhiều nhà độc tài trở thành lố bịch, không khác những tên hề. Ceauşescu tự xưng mình là “Thiên tài của vùng Carparthians”, một vùng núi rộng lớn ở Trung Âu, kéo dài từ Slovakia qua miền Nam Ba Lan, miền Tây Ukraine đến tận phía Đông Bắc của Romania. Còn vợ của ông, Elena, người được cử làm Phó Thủ tướng, thì được tuyên truyền như một “Quốc mẫu”, một nhà khoa học vĩ đại (dù bà thực sự bỏ học từ năm 14 tuổi, và tất cả các cái gọi là “công trình khoa học”, kể cả luận án tiến sĩ của bà, đều do người khác viết). Rafael Trujillo, nhà độc tài ở Dominican Republic từ 1930 đến 1938 và từ 1942 đến 1952 thì tự xem mình là Thượng đế. Ông ta ra lệnh cho mọi nhà thờ trong nước phải khắc câu “Chúa ở trên Trời, Trujillo ở dưới Thế” (God in Heaven, Trujillo on Earth) và mọi bảng xe đều khắc câu “Trujillo vạn tuế”. Francisco Macias Nguema, nhà độc tài ở Equatorial Guinea từ năm 1968 đến 1979 cũng thế. Cũng tự xưng mình là Thượng đế. Dưới thời ông, biểu ngữ chính trong nước ghi “Không có Thượng đế nào khác ngoài Macias Nguema”. Saparmurat Niyazov, Tổng thống xứ Turkmenistan từ năm 1990 đến 2006 thì ra lệnh đổi tên 12 tháng trong năm theo tên ông và người thân trong gia đình của ông. Ông cũng viết sách và ra lệnh bất cứ người dân nào, để được thi lấy bằng lái xe, cũng phải thuộc lòng nguyên cả cuốn sách của ông.
 
 Thứ tư, tất cả đều giả dối, đều sử dụng vô số huyền thoại láo khoét để biến mình thành thần tượng, thành những lãnh tụ anh minh, đầy viễn kiến, mở ra những chân trời mới cho đất nước hoặc cho cả nhân loại. Những huyền thoại ấy nhiều khi rất ngây ngô, ví dụ chuyện Kim Chính Nhật điều khiển đội tuyển bóng đá Bắc Triều Tiên trong giải World Cup 2010 bằng cách chỉ dẫn từng đường đi nước bước trong suốt trận đấu cho huấn luyện viên Kim Jong-Hun qua một chiếc điện thoại di động vô hình!

Nhưng cả bốn điều “đáng ngạc nhiên” trên đều không đáng ngạc nhiên bằng hai điều này:
 
 Một, mặc dù tham lam, độc ác, mắc bệnh huyễn tưởng và giả dối như vậy, những tên độc tài ấy lại cầm quyền, hơn nữa, cầm quyền một cách tuyệt đối, trong thời gian rất dài, có khi cả đời hoặc nhiều đời, hết đời con đến đời cháu, chắt.
 
 Hai, dù đầy khuyết điểm như vậy, những tên độc tài ấy vẫn được nhiều người, kể cả giới trí thức, thậm chí là trí thức xuất sắc ở Tây phương, ngưỡng mộ và hết sức bênh vực cũng như góp phần tuyên truyền cho chúng một cách nhiệt tình.
 
 Trong hai điều trên, điều thứ hai quan trọng hơn. Giải thích điều thứ nhất, người ta có thể nói: Bởi các nhà độc tài đã xây dựng được một bộ máy tuyên truyền hữu hiệu đủ để nhồi sọ tất cả mọi người và một bộ máy quyền lực mạnh mẽ đủ để nghiền nát bất cứ người nào dám chống đối. Nhưng không có một bộ máy xã hội và chính trị nào có thể tồn tại độc lập. Vấn đề chính là ở con người, tức ở khía cạnh thứ hai, chúng ta vừa nêu ở trên: Tại sao người ta lại khiếp sợ và ngưỡng mộ các tên độc tài đến như vậy? Tại sao người ta lại để cho các tên độc tài dễ dàng lừa dối mình đến như vậy?
 
 Trên thế giới, cũng có nhiều người từng ngạc nhiên như vậy. Có thời, những kẻ như Hitler, Mussolini, Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông, Fidel Castro, thậm chí, Kim Chính Nhật đã trở thành thần tượng của nhiều trí thức và văn nghệ sĩ Tây phương. Đạo diễn Oliver Stone khen Fidel Castro là một kẻ “rất vị tha và đạo đức. Một trong những người khôn ngoan nhất trên thế giới.” Một đạo diễn khác, Steven Spielberg, cho “gặp gỡ Fidel Castro là tám giờ quan trong nhất” trong cuộc đời của ông.

Trước đó, ở Ý, Gabriele D’Annunzio, một nhà thơ lớn, cũng như nhiều nhà thơ thuộc trường phái Vị Lai khác, từng là những kẻ ủng hộ nhiệt thành Mussolini. Ở Đức, Hitler không thiếu người ngưỡng mộ, kể cả một trong những triết gia lớn nhất của thế kỷ, Heidegger, một trong những họa sĩ lớn nhất của thế kỷ, Salvador Dali, một trong những nhà thơ lớn nhất của thế kỷ, Ezra Pound. Nhà văn Na Uy từng đoạt giải Nobel năm 1920, Knut Hamsun, cũng rất ủng hộ Hitler.
 
 Đối với các nhà độc tài cộng sản, số trí thức ngưỡng mộ nhiều hơn hẳn. Nhà văn Anh George Bernard Shaw (1856-1950) suốt đời ủng hộ Lenin, Stalin, và cả Hitler nữa. Cả Andre Gide và Doris Lessing đều từng ủng hộ Stalin tuy cả hai, sau đó, tự nhận là mình lầm.  Picasso, Bertolt Brecht, Pablo Neruda, W.E.B. Du Bois, Graham Greene, v.v. cũng đều ủng hộ Stalin; trong đó, có người vừa ủng hộ Stalin vừa ủng hộ Mao Trạch Đông.
 
 Jean-Paul Sartre cũng từng là người ủng hộ Stalin và chế độ cộng sản rất nồng nhiệt. Ông là tác giả của một câu nói gây rất nhiều tai tiếng: “Mọi kẻ chống cộng đều là chó” (every anti-communist is a dog). May, sau đó, ông thay đổi thái độ. Khi quân đội Sô Viết xâm lăng Hungary vào tháng 11 năm 1956, ông lên án Liên Xô kịch liệt. Sự phê phán của Sartre đối với Liên Xô càng mạnh mẽ hơn nữa vào năm 1968 khi quân đội Xô Viết trấn áp dân chúng Czechoslovakia trong sự kiện được gọi là “mùa xuân Prague”. Trước năm 1975, trong chiến tranh Việt Nam, ông là người tích cực ủng hộ miền Bắc và lên án Mỹ một cách gay gắt.  Sau năm 1975, chứng kiến thảm cảnh của người Việt Nam vượt biển, ông lại lên tiếng phê phán chính quyền Việt Nam và kêu gọi chính phủ Pháp cứu giúp người tị nạn.

Chúng ta lại phải tự hỏi: Tại sao nhiều người trí thức lại dễ dàng bị các nhà độc tài lừa bịp đến như vậy? Tại sao họ lại nhẹ dạ và cả tin đến như vậy?
 
 Nhớ, trước đây, trong những lần về Việt Nam, tôi gặp khá nhiều văn nghệ sĩ và trí thức ở miền Bắc. Nhiều người kể lại, trước phong trào đổi mới, đặc biệt, trước năm 1975, họ gần như tuyệt đối tin tưởng vào giới lãnh đạo và chế độ. Trong các buổi học tập chính trị và văn hóa, họ lắng nghe cán bộ giảng bài như nghe những lời thánh phán. Họ cắm cúi ghi chép rồi về nhà, đọc lại một cách thành kính. Sau này, cũng theo lời họ, đọc lại các cuốn sổ tay cũ, họ thấy những ý kiến trong ấy rất hời hợt, thậm chí, ngô nghê. Họ tự hỏi: Tại sao thời ấy họ lại xem những ý kiến ấy như những lời vàng ngọc như vậy? Chính họ, họ cũng không biết rõ câu trả lời. Tất cả đều cho: Đó chỉ là hậu quả của việc nhồi sọ.
 
 Lại nhớ, mấy năm đầu sau 1975, một số trí thức Việt kiều ở Pháp về thăm nước rồi viết bài đăng tải trên báo chí ở Paris. Họ khen Việt Nam không tiếc lời. Trong lúc người Việt Nam đói đến xanh xao mặt mũi, họ khen đời sống rất sung túc. Trong lúc cả hàng chục ngàn người bị bắt đi cải tạo và con cái họ không được vào đại học, họ khen “chính quyền cách mạng” thực tâm hòa giải, không có bất cứ một chính sách kỳ thị nào đối với những người thuộc chế độ cũ trước đó. Trong lúc cả hàng triệu người bất chấp nguy hiểm tìm cách vượt biên tìm tự do, họ cho Việt Nam là một quốc gia dân chủ và ao ước một ngày nào đó được về nước sống hẳn (dù trên thực tế, không bao giờ họ về cả!)
 
 Trí thức trong nước bị nhồi sọ. Nhưng còn trí thức ngoài nước thì sao?
 
 Trong lúc loay hoay tìm cách trả lời cho câu hỏi ấy, cũng như câu hỏi về sự nhẹ dạ và cả tin của trí thức thế giới nói chung, tự dưng tôi nhớ đến mấy câu thơ của Nguyễn Quốc Chánh trong bài “Tao là đứa bé ngoẻo trên lưng Linda Lê”:
 
 “Có 3 thứ không thể kết hợp với nhau nổi. Đó là: Thông minh, lương thiện & cộng sản.
 
 Một người thông minh & lương thiện thì không thể cộng sản,
 Một người thông minh mà cộng sản thì không thể lương thiện, &
 Một người lương thiện mà cộng sản thì chắc chắn không thông minh.”
 
 Những câu thơ ấy ám ảnh tôi đến độ tôi không thể nghĩ tiếp được nữa.
 
 Đành dùng chúng thay cho lời kết luận của bài viết.

Nguyen Hung Quoc

Saturday, April 20, 2013

Phòng Hội Họa của Xuân-Thu









RSS Feeds

--> -->
RSS - Rich Site Summary(thường được gọi là Really Simple Syndication) là một gia đình của nguồn cấp dữ liệu web định dạng được sử dụng để xuất bản cập nhật thường xuyên các công trình, chẳng hạn như blog của các mục tiêu đề tin tức, âm thanh và video trong một định dạng chuẩn.

RSS là một định dạng tập tin, được dùng bởi nhiều website tin tức và weblog.  Công nghệ của RSS cho phép người dùng Internet có thể đặt mua thông tin từ các websites có cung cấp khả năng RSS (RSS feeds); thường là các site có nội dung thay đổi thường xuyên.
Định dạng RSS cung cấp nội dung web và tóm lược nội dụng web cùng với các liên kết đến phiên bản đầy đủ của nội dung tin đó, và các siêu-dữ-liệu (meta-data) khác. Cùng với việc hỗ trợ cung cấp chia sẻ thông tin, RSS cho phép những độc giả thường xuyên của một website có thể theo dõi các cập nhật của site đó dùng một aggregator.
Lợi ích RSS - Nhà xuất bản cho phép họ cung cấp thông nội dung tự động. Một tiêu chuẩn XML định dạng cho phép các thông tin được công bố một lần và xem bởi nhiều chương trình khác nhau. Độc giả muốn đăng ký để cập nhật kịp thời từ các trang web yêu thích hoặc nguồn cấp dữ liệu tổng hợp từ nhiều trang web vào một nơi.

Trên các trang web, RSS feeds thường được liên kết bằng một hình chữ nhật màu cam 


Vì thế admin động viên các bạn Trống đồng nên nối kết blog cá nhân của mình vào với blog tập thể nạy
Admin

Đăng ký Thành Viên


1. Blog đã mở rộng cho mọi người (public) đọc , viết comment/ý kiến cho mỗi Post/Bài.

2. Chỉ có Author/Tác giả mới post/đăng bài được.


Nếu bạn nào thích đăng bài, xin vui lòng bỏ tên vào phần comment ở dưới đây:
   -Tên họ, trường trung học, và GMAIL email address

3. Các bạn sẽ nhận thư mời  từ email account: loptoitudo@gmail.com như thế này.
Mong bạn chấp nhận lời mời ngay, nếu quá hạn chờ đợi thì sẽ không đăng nhập được nữa.

Thêm 1 điều yêu cầu là bạn nhớ cập nhật hóa tên trong Google profile của bạn để tránh tình trạng "Người chiến sĩ vô danh" :)




   4. Phải log vào Google trước, rồi đến site http://trong-dong.blogspot.com/
       hay khi log vao Google, đến site http://www.blogger.com se thay:



5. Các bạn cứ post bài thoải mái , hay comment phía dưới.

Happy blogging!

Admins

Tháng Tư Quyết Tử



Năm 1873, sau khi chiếm được Nam Bộ, Pháp chuẩn bị tiến ra Bắc Bộ. Vua Tự Đức giao phó cho Hoàng Diệu làm Tổng đốc Hà Ninh. Ngay khi tới Hà Nội Hoàng Diệu đã chú tâm tới việc xây dựng thành lũy chuẩn bị lực lượng để chống Pháp. Từ năm 1880 đến 1882, ông đã hai ba lần dâng sớ xin triều đình chi viện để củng cố phòng tuyến chống giặc tại Hà Nội, nhưng không nhận được hồi âm từ Huế.

Đầu năm 1882, lấy cớ Việt Nam không tôn trọng hiệp ước năm 1873 mà lại đi giao thiệp với Trung Hoa, dung túng quân Cờ Đen (một nhánh quân của Thái Bình Thiên Quốc) ngăn trở việc giao thông trên sông Hồng của người Pháp, Đại tá Henri Rivière của Hải quân Pháp cho tàu chiến cùng hơn 400 quân đóng trại tại Đồn Thủy (trên bờ bắc sông Hồng, cách thành Hà Nội 5 km) nhằm uy hiếp Hà Nội. Hoàng Diệu đã hạ lệnh giới nghiêm tại Hà Nội và bố cáo các tỉnh xung quanh sẵn sàng tác chiến, đồng thời yêu cầu viện binh từ triều đình Huế.

Tuy nhiên phái chủ bại của triều đình Huế đã thuyết phục vua Tự Đức chấp nhận mất miền Bắc để giữ an toàn cho ngai vàng. Vua Tự Đức đã hạ chiếu quở trách Hoàng Diệu đã đem binh dọa giặc và chế ngự sai đường. Nhưng Hoàng Diệu đã quyết tâm sống chết với thành Hà Nội. Các quan xung quanh ông Hoàng Diệu lúc bấy giờ có Tuần phủ Hoàng Hữu Xứng, Đề đốc Lê Văn Trinh, Bố chánh Phan Văn Tuyển, Án sát Tôn Thất Bá và Lãnh binh Lê Trực đã cùng nhau uống rượu hòa máu tỏ quyết tâm sống chết với Hà thành.

Quân Pháp tấn công thành Hà Nội

Rạng ngày 25 tháng 4 năm 1882, tức ngày mồng 8 tháng 3 năm Nhâm Ngọ, Henri Rivière cho tàu chiến áp sát thành Hà Nội, đưa tối hậu thơ, yêu sách ba điều:
Phá các tao tác phòng thủ trong thành.
Giải giới binh lính.
Đúng 8 giờ các vị quan văn võ trong thành Hà Nội phải thân đến trình diện với Henri Rivière. Sau đó, quân Pháp sẽ vào thành kiểm kê. Xong sẽ giao trả thành lại.

Hoàng Diệu tiếp tối hậu thư, liền sai Tôn Thất Bá đi điều đình. Nhưng không đợi trả lời, lúc 8 giờ 15, Rivière với 4 tàu chiến là La Fanfare, La Massue, La Hache, La Surprise (tàu này không kịp tới, vì mắc cạn dọc đường Hải Phòng đi Hà Nội) bắn vào thành yểm trợ cho số quân 450 người và một ít thân binh đổ bộ hòng chiếm thành Hà Nội[3].

Ngay trong những phút đầu tiên, hoàng thân Tôn Thất Bá chạy trốn vào làng Mọc (Nhân Mục) ở phía Đông Nam Hà Nội theo Pháp và thông báo tình hình trong thành Hà Nội cho họ. Đồng thời, Bá cũng dâng sớ lên vua Tự Đức đổ tội cho Hoàng Diệu và xin với Pháp cho Bá thay làm Tổng đốc Hà Ninh.

Tuy vậy, quân Pháp vẫn vấp phải sự kháng cự quyết liệt của quân dân Hà thành dưới sự chỉ huy của Hoàng Diệu[4]. Quân Pháp bị thiệt hại nặng và phải rút ra ngoài tầm súng để củng cố lực lượng.

Nhưng trong lúc chiến sự diễn ra khốc liệt thì kho thuốc súng của Hà Nội nổ tung[5], do Việt gian mua chuộc bởi bọn Pháp làm. Một số nhà sử học còn đoán rằng nó liên quan tới phản thần Tôn Thất Bá.[4] dẫn tới đám cháy lớn trong thành làm cho lòng quân hoang mang. Quân Pháp thừa cơ phá được cổng Tây thành Hà Nội và ùa vào thành. Bố chính Nguyễn Văn Tuyển, Đề đốc Lê Văn Trinh và các lãnh binh bỏ thành chạy, còn Tuần phủ Hoàng Hữu Xứng trốn trong hành cung.

Trong tình thế tuyệt vọng, Hoàng Diệu vẫn tiếp tục bình tĩnh dẫn đầu quân sĩ chiến đấu chống lại quân Pháp dù lực lượng ngày càng yếu đi, không thể giữ được thành nữa. Cuối cùng, Hoàng Diệu đã ra lệnh cho tướng sỹ giải tán để tránh thương vong. Một mình Hoàng Diệu vào hành cung, thảo tờ di biểu, rồi ra trước Võ miếu dùng khăn bịt đầu thắt cổ tự tử, hưởng dương 54 tuổi.

Tờ di biểu, ông cắn ngón tay lấy máu viết di biểu tạ tội cho vua Tự Đức: Thành mất không sao cứu được, thật hổ với nhân sĩ Bắc thành lúc sinh tiền. Thân chết có quản gì, nguyện xin theo Nguyễn Tri Phương xuống đất. Quân vương muôn dặm, huyết lệ đôi hàng...[6].

Ông mất ngày 25 tháng 4 năm 1882, thọ 54 tuổi.

===========================================================
Isn't it a eye catching title? hehehe... :)

Google Blogger Rules


Number of Posts: There is no limit on the number of posts you can have on one blog. They will all be saved on your account (unless you manually delete them) regardless of whether you are publishing archives or not.


Size of Posts: Individual posts do not have a specific size limit, but very large posts may run you up against the page size limit. (See the next item.)
Size of Pages: Individual pages (the main page of your blog, or your archive pages) are limited to 1 MB in size. This will allow for a few hundred pages of text, but it may be a problem if you are listing hundreds of posts on the front page of your blog. If you hit this limit, you will see an error message saying "006 Please contact Blogger Support." You can get around this error by lowering the number of posts on your main page, which will have the added benefit of making your page load faster as well.
Number of Comments: A post can have any number of comments. As with archived posts, if you choose to hide comments on your blog, all pre-existing comments will remain saved on your account.
Number of Pictures: Up to 1 GB of total storage, shared with Picasa Web
Size of Pictures: If you are posting pictures through Blogger Mobile there is a limit of 250K per picture.
Team Members: There is a limit of 100 members per blog.
Number of Labels: Up to 2000 unique labels per blog and 20 per post.
Blog Description: Limited to 500 characters, with no HTML. Adding additional characters or HTML may cause it to revert to a previous setting.
"About Me" Profile Information: Maximum of 1,200 characters.
Profile Interests and Favorites: Maximum of 2,000 characters in each field.

Những mầm non âm nhạc thời nay - Tyler Hudson - Trống- Từ 2 tuổi...



Tyler Hudson - Trống- Từ 2 tuổi, đã biểu lộ 1 tình yêu mãnh liệt và nỗi ám ảnh đối với âm nhạc và trống. Đến 6 tuổi, em đã chơi trống như một người lớn và chuyên nghiệp. Em soạn nhạc và đạt giải thưởng của những bài hát ở năm 13 tuổi. Tyler là một thành viên đầu tiên và tay trống hiện tại của ban nhạc Mindwalk Blvd.

More information at:
http://mindwalkband.com/index.cfm/pages/home.article/section_id/89/article_id/59/tyler-hudson.cfm

Những mầm non âm nhạc thời nay - Alma Elizabeth Deutscher - 7 tuổi

Alma Deutscher.
Alma Elizabeth Deutscher, sinh năm 2005, đã là một nhạc sĩ đàn piano và violin. Bé sống với cha mẹ ở Dorking, Surrey, Anh quốc.
Bây giờ cô ấy có thể thêm sáng tác opera của mình vào danh sách - và cô ấy chỉ mới bảy tuổi.
Năm 7 tuổi, 2012, bé sáng tác vở opera Người dọn dẹp những Giất Mơ(The Sweeper of Dreams), và được tán thưởng, ngợi ca rất nhiều bởi English National Opera.

Alma biểu diễn violin lúc 6 tuổi

Những mầm non âm nhạc thời cổ điển


Mozart at age 7
 Wolfgang Amadeus Mozart (1/1756 – 5/1791,con Leopold Mozart (1719-1787) và Anna Maria (1720-1778), Salzburg, một công quốc của Giáo Hội, và bây giờ là nước Áo.
Ông là người trẻ nhất trong bảy người con, năm người trong số họ đã chết trong giai đoạn trứng nước. Mozart đã cho thấy khả năng phi thường từ thời thơ ấu. Đã có thẩm quyền trên bàn phím và violon từ 4 tuổi, ông sáng tác từ 5 tuổi, và năm 17 tuổi, ông đã tham gia như là một nhạc sĩ tòa án ở Salzburg , nhưng tăng trưởng không ngừng nghỉ và đi du lịch để tìm kiếm một vị trí tốt hơn, luôn luôn sáng tác dồi dào.  Trong những năm cuối cùng của ông ở Vienna, ông sáng tác nhiều bản nhạc giao hưởng nổi tiếng nhất của ông, concerto và nhạc kịch, và các phần của lễ cầu siêu , mà phần lớn là chưa hoàn thành tại thời điểm ông qua đời.

William Crotch (5/7/1775-29/12/1847-nhà soạn nhạc người Anh & nhạc sĩ chơi organ.  Sinh ra ở Norwich , Norfolk, la` 1 thần đồng âm nhạc từ lúc 3 tuổi.  Lúc 3 tuổi rưởi, bà mẹ đầy tham vọng đưa ông đến Luần đôn, từ đó ông chỉ chơi ở các cơ quan của nhà thờ Hoàng gia, trong Cung điện St James , và cả vua George III

Source: List of music prodigies




Bilingualism: No Big Deal for Brain

by Tuan Hung Phi - Friday, 24 June 2011, 10:34 AM
 Có bản tin này hay cho các phụ huynh cho con em học nhiều thứ tiếng.
Đối với các bé có bố mẹ nói các ngôn ngữ khác nhau, hoặc học ở trường 1 thứ tiếng về nhà sử dụng 1 thứ tiếng khác, rồi ra đường lại dùng 1 thứ tiếng khác...thì các phụ huynh cũng đừng ngại rằng các thứ ngôn ngữ của bé sẽ lẫn lộn nhau hoặc ngôn ngữ này cản trở sự thành thạo của ngôn ngữ khác. Mọi quá trình ngôn ngữ trong não trẻ diễn ra 1 cách hết sức tự nhiên không có gì ép buộc cả.
Hùng
(Thức ăn cũ, hâm lại ăn vẫn ngon như thường :)
(t muốn test, để tạo hết mấy Categories 1 lần luôn - att)

Bilingualism No Big Deal for Brain, Researcher Finds

ScienceDaily (May 31, 2011) — How do people who speak more than one language keep from mixing them up? How do they find the right word in the right language when being fluent in just one language means knowing about 30,000 words?

That's what science has wondered about for decades, offering complicated theories on how the brain processes more than one language and sometimes theorizing that bilingualism degrades cognitive performance.
But University of Kansas psycholinguist Mike Vitevitch thinks that complicated explanations of how the brain processes two or more languages overlook a straightforward and simple explanation.
"The inherent characteristics of the words -- how they sound -- provide enough information to distinguish which language a word belongs to," he said. "You don't need to do anything else."
And in an analysis of English and Spanish, published in the April 7 online edition of Bilingualism: Language and Cognition, Vitevitch found few words that sounded similar in the two languages.
Most theories of how bilingual speakers find a word in memory assume that each word is "labeled" with information about which language it belongs to, Vitevitch said.
But he disagrees. "Given how different the words in one language sound to the words in the other language, it seems like a lot of extra and unnecessary mental work to add a label to each word to identify it as being from one language or the other. "
Here's an analogy. Imagine you have a bunch of apples and oranges in your fridge. The apples represent one language you know, the oranges represent another language you know and the fridge is that part of memory known as the lexicon, which contains your knowledge about language. To find an apple you just look for the round red thing in the fridge and to find an orange you just look for the round orange thing in the fridge. Once in a while you might grab an unripe, greenish orange mistaking it for a granny smith apple. Such instances of language "mixing" do happen on occasion, but they are pretty rare and are easily corrected, said Vitevitch.
"This process of looking for a specific piece of fruit is pretty efficient as it is -- labeling each apple as an apple and each orange as an orange with a magic marker seems redundant and unnecessary."
Given how words in one language tend to sound different from words in another language, parents who speak different languages should not worry that their children will be confused or somehow harmed by learning two languages, said Vitevitch.
"Most people in most countries in the world speak more than one language," said Vitevitch. "If the U.S. wants to successfully compete in a global economy we need people who can communicate with potential investors and consumers in more than one language."
Vitevitch is an associate professor of psychology at KU and an associate scientist with KU's Life Span Institute.
Source: Science daily

The Seven Greatest Humanitarians In History

Source: The Seven Greatest Humanitarians In History
October 9, 2011

Harriet Tubman

QlnYV The Seven Greatest Humanitarians In History
Harriet Tubman was an African-American who overcame slavery to save others from a similar fate. Born in 1822 in Maryland, Tubman was born into slavery and was frequently beaten by her master before escaping in 1849 to Philadelphia. However, she quickly returned to Maryland and other slave states to help others (including her family) escape through the Underground Railroad. Overall, she led 13 missions and rescued 70 slaves. Aside from her escape missions, Harriet also worked as a spy for the Union during the American Civil War.

Norman Borlaug

v7X57 The Seven Greatest Humanitarians In History
An oft-overlooked figure, Norman Borlaug was responsible for an agricultural revolution that saved billions of people from starvation. Born in 1914 in Iowa, Borlaug was an agronomist who developed a variety of high-yield, disease-resistant wheat. Throughout the 20th century, Borlaug introduced this method of wheat production to Mexico, Pakistan and India, doubling food production and decreasing the rates of starvation in these countries. This came to be known as the Green Revolution, which Borlaug continued to promote to Asia and Africa later in life.

Martin Luther King

qSi7A The Seven Greatest Humanitarians In History

Martin Luther King was the African-American clergyman and activist who spearheaded the Civil Rights Movement. Like Mandela and Gandhi, King advocated non-violent methods to advance civil rights in the US and around the world. His work focused on abolishing racial segregation in America, and he led the Montgomery Bus Boycott in 1955 and the 1963 March on Washington, which culminated in the iconic “I Have A Dream” speech. King was awarded the Nobel Peace Prize in 1964, and although he was assassinated in 1968, his legacy of tireless campaigning for human rights lives on to this day.

Mother Teresa

Born in 1910, Mother Teresa spent 45 years in the service of others. A Roman Catholic nun, Mother Teresa became involved in humanitarianism after reading stories about missionaries in Bengal. At the age of 18, she left her home to join the Sisters of Loreto as a missionary.
nyGCu The Seven Greatest Humanitarians In History
Mother Teresa’s humanitarian work is extensive and legendary as she founded and worked for the Missionaries of Charity in Calcutta, India. Today, the Missionaries of Charity numbers 600, reaches over 133 countries, and cares for refugees, sick and orphaned children, the aged, AIDS victims and the mentally ill, among others.

Nelson Mandela

Incarcerated for 27 years for his efforts to abolish racial segregation in South Africa, Nelson Mandela is widely regarded for his human rights work. Mandela spent the best part of his youth working with the African National Congress, which advocated a non-violent approach to changing the apartheid laws in the country.
PF67Z The Seven Greatest Humanitarians In History
However, in 1956, he was charged with treason for his efforts, and after hiding for some time, was put in prison in 1962. Though he was meant to serve a life sentence for an array of unjust charges, Mandela was released in February 1990 and soon became President in 1994. His efforts and incarceration shed light on the racist behavior in South Africa and served as inspiration for human rights advocates across the globe.

Mahatma Gandhi

cmNiA The Seven Greatest Humanitarians In History
Not many would be unfamiliar with the Indian political and ideological leader, Gandhi. Dubbed the “Father of the Nation”, Gandhi was responsible for leading and inspiring India to independence from the British. From 1915 to 1945, he worked tirelessly, advocating for peaceful demonstrations as India strived for independence. His efforts and philosophy influenced civil rights and freedom movements around the world.

Oskar Schindler

oTmsD The Seven Greatest Humanitarians In History
Those familiar with Steven Spielberg’s epic Schindler’s List will be familiar with the Oskar Schindler story. Born in 1908, the German industrialist saved over 1000 Jews during the Holocaust. In 1939, Schindler gained ownership over a large factory and it was at this factory that he employed thousands of Jews, thereby saving their lives. Schindler used his power and the factory’s importance to shield his workers from the numerous Gestapo raids and threats of deportation.

How to update profile

Please update your profile and especially add your picture to your profile
1. Log in trong-dong.blogspot.com
2. Click on your name on the top right corner, it will display a popup, click on Blogger Profile


3. Click on Edit Profile, and follow instruction to update your profile picture. Don't forget to "Save Profile"




How to create a new Post

1. Go to: trong-dong.blogspot.com  & log into your gmail account
2. Click on "New Post" on the top right corner



3. The editor will display for you to write/insert/add images/voice/video
  • After 4,5 rows, insert a Jump break
  • Tag your article with key words at the Label window for easy searching later on.
  • Click on Publish 
  • You can always update, or "View Blog" to see your update 
4. The tool bar is very similar to loptoionline, except, it is not automatically set up for Vietnamese font. (PTH, can you post the keyboard or font setup?)
5. In order to display a short excerpt on the main page, you will need to Create a Jump, by selecting a position that you need to put a break, and click on the following jump icon



  
5. If you want to make change after publishing your post, go to the post footer, and click on the Pencil icon.


Happy Blogging!
:)